Trong suốt
chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, mỗi quốc gia đều có những biểu tượng
thiêng liêng kết tinh bản sắc, ý chí và khát vọng của dân tộc mình. Đối với
Việt Nam, lá cờ đỏ sao vàng không chỉ là Quốc kỳ, biểu tượng của chủ quyền quốc
gia và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn là hình ảnh gắn liền với
những năm tháng đấu tranh gian khổ để giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Đồng chí Nguyễn Hữu Tiến (1901-1941)
Mẫu cờ Tổ quốc
Từ Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, Cách mạng Tháng Tám năm
1945, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình
lịch sử đến những chiến thắng vẻ vang trong các cuộc kháng chiến và công cuộc
đổi mới đất nước hôm nay, lá cờ đỏ sao vàng luôn hiện diện như biểu tượng của
niềm tin, ý chí và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam.
Đằng sau sự ra đời và lan tỏa của biểu tượng thiêng
liêng ấy là sự đóng góp của nhiều thế hệ chiến sĩ cách mạng. Trong đó, đồng chí
Nguyễn Hữu Tiến (1901 – 1941) được nhiều tài liệu lịch sử ghi nhận là người có vai trò đặc biệt
trong việc thiết kế, hoàn thiện và đưa mẫu cờ đỏ sao vàng trở thành biểu tượng
của phong trào cách mạng Việt Nam trước khi được lựa chọn làm Quốc kỳ của nước
Việt Nam độc lập. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí là minh chứng
sinh động cho lòng yêu nước, tinh thần kiên trung và sự cống hiến trọn đời cho
lý tưởng giải phóng dân tộc.
Nguyễn Hữu Tiến, tên thật là Trương Xuân Trinh,
sinh tháng 3 năm 1901 tại làng Lũng Xuyên, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sinh ra
trong một gia đình có truyền thống hiếu học, ngay từ khi còn trẻ, ông đã sớm
tiếp thu tinh thần yêu nước và khát vọng đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột
của thực dân phong kiến.
Những năm cuối thập niên 1920, khi phong trào yêu nước
và cách mạng phát triển mạnh mẽ, Nguyễn Hữu Tiến tích cực tham gia hoạt động
cách mạng, trở thành một trong những đảng viên cộng sản tiêu biểu của quê hương
Hà Nam. Từ một trí thức yêu nước, ông nhanh chóng giác ngộ lý tưởng cộng sản và
xác định con đường duy nhất để cứu nước, cứu dân là đi theo con đường cách mạng
vô sản do Đảng lãnh đạo. Trong quá trình hoạt động, Nguyễn Hữu Tiến nhiều lần
bị thực dân Pháp bắt giam, tra tấn và đày ải. Năm 1933, ông bị kết án tù và đày
ra Côn Đảo. Tuy nhiên, nhà tù khắc nghiệt không thể làm lung lay ý chí của
người cộng sản. Sau khi trở về đất liền, ông tiếp tục tham gia hoạt động cách
mạng ở Nam Bộ, được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng về tuyên truyền, tổ chức và
in ấn tài liệu phục vụ phong trào đấu tranh. Trong điều kiện hoạt động bí mật
đầy hiểm nguy, những công việc tưởng như thầm lặng ấy lại có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng. Những tờ truyền đơn, tài liệu tuyên truyền không chỉ truyền bá chủ
trương của Đảng mà còn khơi dậy tinh thần yêu nước, hun đúc ý chí đấu tranh
trong quần chúng nhân dân. Chính từ thực tiễn hoạt động đó, Nguyễn Hữu Tiến đã
góp phần tạo nên một biểu tượng có sức sống bền bỉ cùng lịch sử dân tộc.
Năm 1940, trước yêu cầu chuẩn bị cho cuộc Khởi nghĩa
Nam Kỳ, Xứ ủy Nam Kỳ cần một lá cờ thống nhất để tập hợp, cổ vũ và dẫn dắt quần
chúng đứng lên đấu tranh. Theo nhiều tài liệu lịch sử được Báo Nhân Dân, Nhà
xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và các công trình nghiên cứu lịch sử ghi
nhận, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến được giao nhiệm vụ vẽ và in mẫu cờ phục vụ cuộc
khởi nghĩa.
Từ thực tiễn phong trào cách mạng và khát vọng giải
phóng dân tộc, mẫu cờ nền đỏ với ngôi sao vàng năm cánh ở chính giữa đã ra đời.
Không chỉ là một thiết kế mang tính hình thức, lá cờ còn hàm chứa những giá trị
tư tưởng sâu sắc. Theo cách lý giải được lưu truyền rộng rãi gắn với Nguyễn Hữu
Tiến, nền đỏ tượng trưng cho máu đào của các thế hệ người Việt Nam đã hy sinh
vì độc lập, tự do; ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho sức mạnh đoàn kết của
các tầng lớp nhân dân gồm sĩ, nông, công, thương, binh trong sự nghiệp cách
mạng.
Để giải thích ý nghĩa của lá cờ, Nguyễn Hữu Tiến đã
viết những câu thơ giàu cảm xúc và tính cổ vũ cách mạng:
“Hỡi những ai máu đỏ da vàng,
Hãy chiến đấu dưới cờ thiêng Tổ quốc.
Nền cờ thắm máu đào vì nước,
Sao vàng tươi da của giống nòi...”
Và:
“Hỡi sĩ, nông, công, thương, binh,
Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.”
Những câu thơ ấy không chỉ giải thích ý nghĩa biểu
tượng của lá cờ mà còn thể hiện tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam: sức
mạnh của dân tộc bắt nguồn từ khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng.
Ngày 23/11/1940, trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ, lá cờ
đỏ sao vàng lần đầu tiên xuất hiện công khai tại nhiều địa phương ở Nam Bộ. Dù
cuộc khởi nghĩa không thành công, nhưng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng đã để lại
dấu ấn sâu sắc trong lòng quần chúng cách mạng, trở thành biểu tượng của tinh
thần bất khuất và khát vọng giành độc lập dân tộc.
Lịch sử đã chứng minh rằng, giá trị của một biểu tượng
không chỉ nằm ở hình thức mà còn ở khả năng quy tụ niềm tin và khát vọng của
nhân dân.
Sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, cờ đỏ sao vàng tiếp tục được sử
dụng rộng rãi trong phong trào cách mạng. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8
(tháng 5/1941), dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, vấn đề xây dựng
chính quyền cách mạng và biểu tượng của nước Việt Nam tương lai được đặt ra. Từ
đó, cờ đỏ sao vàng từng bước trở thành biểu tượng chính thức của phong trào
Việt Minh và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Tháng 8/1945, Đại hội Quốc dân Tân Trào quyết định lấy
cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ của nước Việt Nam mới. Ngày 2/9/1945, tại Quảng
trường Ba Đình lịch sử, dưới lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió, Chủ tịch Hồ
Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Từ thời khắc lịch sử ấy, lá cờ đỏ sao vàng chính
thức trở thành biểu tượng của một quốc gia độc lập, tự do. Hiến pháp năm 1946
tiếp tục xác định Quốc kỳ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là lá cờ nền đỏ, ở
giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Sau ngày đất nước thống nhất, Quốc hội khóa VI
năm 1976 quyết định Quốc kỳ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp
tục là cờ đỏ sao vàng – biểu tượng thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.
Điều xúc động nhất trong cuộc đời Nguyễn Hữu Tiến là
ông đã không được chứng kiến ngày dân tộc giành độc lập. Tháng 8 năm 1941, thực
dân Pháp xử bắn đồng chí Nguyễn Hữu Tiến tại Hóc Môn (Gia Định), cùng nhiều
chiến sĩ cộng sản kiên trung khác như Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần và Nguyễn Thị
Minh Khai. Ông hy sinh khi mới 40 tuổi, trong lúc cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc vẫn còn vô cùng gian khổ.
Bốn năm sau ngày ông ngã xuống, lá cờ đỏ sao vàng đã
tung bay trên Quảng trường Ba Đình trong ngày độc lập của dân tộc. Người chiến
sĩ cộng sản năm nào không còn hiện diện để chứng kiến thời khắc lịch sử ấy,
nhưng biểu tượng mà ông góp phần tạo dựng đã đồng hành cùng dân tộc trên mọi
chặng đường phát triển. Đó chính là giá trị lớn lao của những người cộng sản
chân chính: sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ, hạnh phúc và cả cuộc đời mình cho lý
tưởng cách mạng, để thế hệ mai sau được sống trong độc lập, tự do.
Trải qua hơn tám thập niên, lá cờ đỏ sao vàng vẫn tung
bay trên khắp mọi miền đất nước, từ biên giới đến hải đảo, từ các cơ quan công
quyền, trường học, nhà máy đến những sự kiện trọng đại của quốc gia. Mỗi lần
Quốc kỳ được kéo lên là một lần nhắc nhớ về lịch sử đấu tranh anh dũng của dân
tộc; nhắc nhớ về biết bao thế hệ người Việt Nam đã cống hiến và hy sinh vì độc
lập, tự do của Tổ quốc. Trong dòng chảy lịch sử ấy, tên tuổi Nguyễn Hữu Tiến
luôn được nhắc đến với sự trân trọng và biết ơn. Dù thời gian đã lùi xa, những
đóng góp của ông đối với phong trào cách mạng và đối với sự hình thành biểu
tượng thiêng liêng của dân tộc vẫn còn nguyên giá trị. Người chiến sĩ cộng sản
ấy đã ngã xuống trước ngày độc lập, nhưng dấu ấn mà ông để lại vẫn sống mãi
cùng đất nước. Và dưới màu cờ đỏ sao vàng hôm nay, các thế hệ người Việt Nam
tiếp tục viết tiếp khát vọng dựng xây đất nước phồn vinh, hạnh phúc, xứng đáng
với sự hy sinh của những người đi trước, trong đó có đồng chí Nguyễn Hữu Tiến –
người đã để lại dấu ấn đặc biệt trong hành trình hình thành biểu tượng thiêng
liêng của dân tộc Việt Nam.