Sắt son một lòng với đảng: 10 năm kiên trung nơi ngục tù Côn đảo của đồng chí Phạm Hữu Lầu
Trong dòng chảy lịch sử đầy máu
và hoa của cách mạng Việt Nam, Côn Đảo từng là nỗi khiếp sợ với danh xưng
"địa ngục trần gian" – nơi thực dân Pháp xây dựng hệ thống chuồng cọp,
hầm xay lúa và áp đặt những cực hình tàn khốc hòng bẻ gãy ý chí của những người
yêu nước. Thế nhưng, chính tại nơi tận cùng của sự bạo tàn ấy, bản lĩnh của những
chiến sĩ cộng sản chân chính lại tỏa sáng rực rỡ hơn bao giờ hết. Đồng chí Phạm
Hữu Lầu (bí danh Tư Lộ), nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng
Cộng sản Việt Nam, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, là một biểu tượng sáng ngời cho
tinh thần thép đó. Trải qua hai lần bị tù đày với tổng cộng gần 10 năm bị giam
cầm tại Côn Đảo, ông đã kiên cường vượt qua mọi ngón đòn tra tấn, cùng các đồng
chí đồng đội biến ngục tù thực dân thành trường học cách mạng, dệt nên một huyền
thoại bất khuất trước đại dương.
Đồng chí Phạm Hữu Lầu sinh
năm 1906 tại làng Hòa An, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc Phường 4, thành
phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp). Mồ côi cha từ năm 13 tuổi, đối mặt với gia cảnh
nghèo khó và người mẹ đau yếu, ông phải sớm bươn chải bằng đủ nghề từ thợ sơn đến
thợ hớt tóc để nuôi các em. Chính nghịch cảnh cuộc sống cùng truyền thống yêu
nước của quê hương Hòa An đã sớm hun đúc trong ông ngọn lửa đấu tranh cách mạng.
Năm 1926, ông tích cực
tham gia lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh tại chợ Cao Lãnh. Đến năm 1928, ông gia
nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và một năm sau trở thành đảng
viên An Nam Cộng sản Đảng, dấn thân vào phong trào "vô sản hóa" đầy
gian khổ. Bước ngoặt lớn đến vào tháng 2/1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời,
đồng chí Phạm Hữu Lầu ở tuổi 24 đã vinh dự là một trong những Ủy viên lâm thời
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đại diện cho phong trào cách mạng Nam Kỳ
gánh vác trọng trách chèo lái tổ chức non trẻ.
Sự phát triển mạnh mẽ của
cao trào cách mạng khiến thực dân Pháp điên cuồng thực hiện chính sách "khủng
bố trắng". Giữa năm 1930, trên đường ra Bắc dự Hội nghị Trung ương, đồng
chí Phạm Hữu Lầu bị mật thám Pháp bắt giữ. Dù bị dùng những cực hình tra tấn dã
man đến chết đi sống lại, kẻ thù vẫn không thể cạy miệng người chiến sĩ trẻ một
lời khai báo. Bất lực trước ý chí sắt đá của ông, ngày 29/01/1931, Hội đồng đề
hình Kiến An đã kết án ông mức án chung thân khổ sai và đày ra Côn Đảo.
Lần thứ nhất (1931 –
1936): Ông bị giam cầm tại Banh II Côn Đảo. Tại đây, thực dân Pháp áp dụng chế
độ lao dịch nặng nề nhằm bào mòn thể xác tù nhân. Tuy nhiên, nhờ cao trào đấu
tranh của Mặt trận Bình dân Pháp, cuối năm 1936, ông cùng hàng trăm tù chính trị
được trả tự do. Trở về đất liền, ông ngay lập tức lao vào hoạt động công khai tại
Sài Gòn, dùng ngòi bút sắc bén trên các tờ báo tiến bộ như L'Avant Garde, Le
Peuple, Dân Chúng để thức tỉnh quần chúng nhân dân.
Lần thứ hai (1940 – 1945):
Cuối năm 1939, khi thế chiến thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp siết chặt kìm kẹp,
ông tiếp tục bị bắt tại Rạch Giá và bị kết án 5 năm tù giam, 10 năm lưu đày biệt
xứ. Tháng 11/1940, chuyến tàu định mệnh lại đưa ông ra Côn Đảo lần thứ hai,
giam cầm tại Banh III cùng với những nhà lãnh đạo kiệt xuất như Lê Duẩn, Nguyễn
An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai. Đây là giai đoạn đen tối và khốc liệt
nhất, khi chúa đảo khét tiếng tăng cường khủng bố nhằm thủ tiêu ý chí và sinh mạng
của tù chính trị.
Sống dưới hầm tối, ăn cơm
trộn thóc sạn, mắm thối và hứng chịu những trận đòn roi chí mạng vô cớ, đồng
chí Phạm Hữu Lầu không những không khuất phục mà còn trở thành một trong những
linh hồn lãnh đạo phong trào đấu tranh trong tù. Ông kiên cường đứng đầu các cuộc
tuyệt thực, đấu tranh đòi cải thiện chế độ sinh hoạt, phản đối bắt bớ, đánh đập
dã man cán bộ chiến sĩ.
Sự kiêu hãnh và sắc sảo của
ông thể hiện ở tư duy biến nguy thành cơ. Đồng chí Phạm Hữu Lầu đã cùng tập thể
Đảng ủy nhà tù tổ chức học tập lý luận chính trị, văn hóa, ngoại ngữ một cách
bí mật. Giữa lằn ranh mỏng manh của sự sống và cái chết, ông nhường từng ngụm
nước, chia sẻ củ khoai, chăm sóc đồng đội lúc đau yếu. Chính tình đồng chí
thiêng liêng ấy đã biến Côn Đảo từ nơi hủy diệt con người thành "Trường đại
học về chủ nghĩa cộng sản lớn nhất Đông Dương", bồi dưỡng nên lớp cán bộ cốt
cán cho cách mạng nước nhà.
Cao trào cách mạng nổ ra,
tháng 8/1945, ông tham gia chớp thời cơ giành chính quyền ngay tại Côn Đảo. Đến
tháng 9/1945, ông trực tiếp tham gia chỉ huy đoàn tàu đưa hơn 400 tù chính trị
kiên trung vượt biển trở về đất liền, kịp thời bổ sung lực lượng lãnh đạo chủ
chốt cho cuộc kháng chiến Nam Bộ.
Gần 10 năm gánh chịu đòn
roi nơi ngục tù Côn Đảo của đồng chí Phạm Hữu Lầu là một thiên anh hùng ca bất
diệt về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Những di
chứng tra tấn khốc liệt nơi lao tù đã khiến sức khỏe ông suy kiệt hoàn toàn, dẫn
đến sự ra đi ở tuổi 53 (vào năm 1959) khi ông đang đương nhiệm chức vụ Bí thư Xứ
ủy Nam Bộ.
Nhằm
ghi nhận những công lao to lớn ấy, Bộ Chính trị đã công nhận đồng chí Phạm Hữu
Lầu là Lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam. Tấm gương
kiên trung, bất khuất của ông không chỉ là niềm tự hào của quê hương Đất Sen Hồng
mà còn là bài học lịch sử vô giá, ngọn đuốc tinh thần soi sáng lý tưởng sống,
lao động và cống hiến cho thế hệ hôm nay trong sự nghiệp xây dựng đất nước giàu
mạnh.