Quản lý hồ sơ cán bộ chặt chẽ, chính xác, bảo mật, đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ trong tình hình mới
Công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt của then chốt” trong công tác
xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Để thực hiện tốt công tác cán bộ, bên cạnh
việc xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ, việc quản lý hồ sơ cán bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Hồ sơ cán bộ
không chỉ là tập hợp các tài liệu hành chính mà còn là tài liệu pháp lý phản
ánh toàn diện, trung thực quá trình hình thành, rèn luyện, công tác, phẩm chất,
trình độ, năng lực, hoàn cảnh và các mối quan hệ của cán bộ. Ngày 07/8/2026,
Ban Bí thư ban hành Quy định số 211-QĐ/TW về quản lý hồ sơ cán bộ, tạo cơ sở thống
nhất, đồng bộ cho việc lập, quản lý, cập nhật, lưu trữ, khai thác và sử dụng hồ
sơ cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong hệ thống chính trị. Quy định
mới đồng thời đặt ra yêu cầu đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa, liên thông dữ liệu hồ
sơ cán bộ, từng bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ giấy sang quản lý hồ
sơ điện tử phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số trong công tác xây dựng Đảng và hệ
thống chính trị.

Một trong những yêu cầu xuyên suốt của Quy định số 211 là bảo đảm hồ
sơ cán bộ đầy đủ, rõ ràng, chính xác, kịp thời và thống nhất. Mỗi cán bộ phải
có một hồ sơ được quản lý thống nhất trong toàn hệ thống chính trị; cán bộ được
tuyển dụng lần đầu vào cơ quan, đơn vị nào thì cơ quan, đơn vị đó có trách nhiệm
lập hồ sơ gốc. Quy định xác định rõ hồ sơ cán bộ là tài liệu pháp lý, phản ánh
toàn diện các thông tin cơ bản về cán bộ, từ nguồn gốc xuất thân, quá trình đào
tạo, bồi dưỡng, quá trình công tác, phẩm chất, trình độ, năng lực, đặc điểm
chính trị, hoàn cảnh kinh tế đến quan hệ gia đình. Thành phần hồ sơ bao gồm lý
lịch cán bộ, lý lịch tóm tắt, sơ yếu lý lịch, phiếu bổ sung lý lịch; các quyết
định về công tác cán bộ; bản tự kiểm điểm, nhận xét, đánh giá, xếp loại; bản kê
khai tài sản, thu nhập theo quy định; các kết luận kiểm tra, giám sát, thanh
tra, kiểm toán, điều tra; kết luận về tiêu chuẩn chính trị và các văn bằng, chứng
chỉ, tài liệu có giá trị pháp lý khác. Những quy định này cho thấy quản lý hồ
sơ cán bộ không phải là công việc thuần túy hành chính, mà trực tiếp phục vụ
công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, điều động,
luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, khen thưởng, kỷ luật và thực
hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ. Vì vậy, một thông tin thiếu chính xác,
một tài liệu chưa được xác minh hoặc một nội dung chậm được cập nhật đều có thể
ảnh hưởng đến chất lượng công tác cán bộ. Mỗi cán bộ phải nhận thức sâu sắc rằng
kê khai hồ sơ là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý của bản thân; phải
kê khai đầy đủ, rõ ràng, trung thực, chịu trách nhiệm về những thông tin đã
cung cấp.
Quy định số 211 yêu cầu hồ sơ cán bộ phải được bổ sung, cập nhật định
kỳ hằng năm hoặc khi có phát sinh thông tin mới. Khi có thay đổi liên quan đến
bản thân, quan hệ gia đình hoặc các nội dung thuộc thành phần hồ sơ, cán bộ phải
chủ động kê khai bổ sung, cung cấp tài liệu chứng minh và chịu trách nhiệm về
tính chính xác, đầy đủ, trung thực của thông tin. Đây là yêu cầu hết sức cần
thiết nhằm khắc phục tình trạng hồ sơ không được cập nhật thường xuyên, thông
tin giữa các tài liệu không thống nhất hoặc hồ sơ thực tế không phản ánh đầy đủ
quá trình công tác của cán bộ. Đáng chú ý, Quy định cũng quy định rõ trách nhiệm
của cán bộ trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi cơ quan quản lý hồ sơ yêu
cầu hoàn chỉnh phải thực hiện việc bổ sung hồ sơ theo quy định. Trường hợp phát
hiện thông tin chưa thống nhất hoặc có nhu cầu điều chỉnh, bổ sung, cán bộ phải
báo cáo người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ xem xét, quyết định;
không được tự ý sửa chữa, thay đổi thông tin. Tinh thần này cần được quán triệt
sâu sắc: trung thực trong kê khai hồ sơ chính là biểu hiện cụ thể của trách nhiệm,
phẩm chất và ý thức tổ chức kỷ luật của người cán bộ, đảng viên. Kê khai đúng
không chỉ để hoàn thiện hồ sơ mà còn góp phần bảo vệ uy tín, danh dự của cán bộ;
đồng thời giúp cấp có thẩm quyền có đầy đủ căn cứ khách quan, chính xác trong
đánh giá và sử dụng cán bộ.
Hồ sơ cán bộ chứa đựng nhiều thông tin quan trọng, trong đó có những nội
dung liên quan đến bảo vệ chính trị nội bộ, bí mật nhà nước, tài sản, thu nhập
và các thông tin cá nhân, gia đình. Vì vậy, bảo đảm an toàn, bảo mật hồ sơ là
yêu cầu có tính nguyên tắc. Quy định số 211 nghiêm cấm việc truy cập, khai
thác, sao chụp, cung cấp, chia sẻ, chỉnh sửa, làm sai lệch hoặc hủy bỏ hồ sơ, dữ
liệu hồ sơ cán bộ trái thẩm quyền hoặc sử dụng không đúng mục đích. Việc nghiên
cứu, khai thác hồ sơ phải được thực hiện đúng đối tượng, đúng mục đích, đúng thẩm
quyền. Người nghiên cứu hồ sơ phải có giấy giới thiệu, phiếu yêu cầu và được
người đứng đầu cơ quan quản lý hồ sơ đồng ý. Chỉ được nghiên cứu tại nơi lưu giữ
hồ sơ hoặc trên hệ thống điện tử được phân quyền; việc sao chụp, trích xuất, in
tài liệu phải được phê duyệt và ghi nhận theo quy định. Những yêu cầu trên đặt
ra trách nhiệm rất cao đối với đội ngũ trực tiếp làm công tác tổ chức, cán bộ. Người
được giao quản lý hồ sơ phải có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần
trách nhiệm, ý thức bảo mật và nghiệp vụ chuyên môn. Tuyệt đối không được chủ
quan, tùy tiện trong quản lý, cung cấp hoặc khai thác thông tin hồ sơ cán bộ. Bảo
mật hồ sơ cán bộ cũng chính là bảo vệ tổ chức, bảo vệ cán bộ và bảo vệ sự
nghiêm minh trong công tác cán bộ.
Điểm mới có ý nghĩa quan trọng của Quy định số 211 là xác định hồ sơ
cán bộ bao gồm hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, có giá trị pháp lý như nhau, đồng
thời từng bước thay thế cơ bản hồ sơ giấy bằng hồ sơ điện tử khi đáp ứng đầy đủ
điều kiện về kỹ thuật, hạ tầng và an toàn, bảo mật. Hồ sơ cán bộ điện tử phải
được số hóa theo chuẩn dữ liệu thống nhất, gắn với mã định danh của cán bộ, được
lưu trữ trên hệ thống bảo đảm an toàn, bảo mật, có phân quyền truy cập và nhật
ký điện tử. Việc tạo lập hồ sơ điện tử phải trải qua các bước kiểm tra tài liệu,
số hóa, kiểm tra chất lượng, gắn mã định danh, cập nhật dữ liệu, xác thực trạng
thái pháp lý, lưu trữ và phân quyền khai thác. Điều này thể hiện rõ yêu cầu đổi
mới phương thức quản lý hồ sơ cán bộ gắn với chuyển đổi số, khắc phục tình trạng
dữ liệu phân tán, thiếu đồng bộ, khó tra cứu, đồng thời tạo nền tảng để kết nối,
liên thông dữ liệu cán bộ trong toàn hệ thống chính trị. Tuy nhiên, số hóa
không đơn thuần là chuyển tài liệu giấy thành tài liệu điện tử. Cốt lõi là phải
chuẩn hóa dữ liệu, làm sạch dữ liệu, bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn, khả năng
truy nguyên nguồn gốc và giá trị pháp lý của dữ liệu. Mọi thay đổi, cập nhật,
chỉnh lý hồ sơ điện tử đều phải có căn cứ, được kiểm soát và ghi nhận theo quy
định. Trong quá trình chuyển tiếp, việc quản lý hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử phải
bảo đảm thống nhất, đồng bộ. Đây là nhiệm vụ đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa
cơ quan tổ chức cán bộ, cán bộ quản lý hồ sơ và bộ phận kỹ thuật, công nghệ
thông tin.
Quy định số 211 xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể: Người đứng đầu
cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ chịu trách nhiệm về công tác quản lý hồ sơ
cán bộ của cơ quan, đơn vị; tổ chức kê khai, thẩm tra, xác minh; quyết định việc
chỉnh sửa thông tin theo thẩm quyền; phê duyệt việc nghiên cứu, khai thác hồ sơ
và kiểm tra định kỳ việc thực hiện quy định. Cơ quan quản lý hồ sơ cán bộ có
trách nhiệm tổ chức lập, bổ sung, chuyển giao, tiếp nhận, nghiên cứu, khai
thác, lưu giữ và bảo quản hồ sơ; đồng thời cung cấp kịp thời, đầy đủ tài liệu
cho cơ quan cấp trên khi có yêu cầu. Đối với cán bộ trực tiếp làm công tác quản
lý hồ sơ, yêu cầu đặt ra là phải thực hiện nghiêm các nguyên tắc quản lý, bảo mật;
chủ động thu thập, bổ sung tài liệu; phục vụ khai thác hồ sơ nhanh chóng, đầy đủ,
chính xác; thường xuyên phát hiện và tham mưu xử lý những vấn đề phát sinh. Đặc
biệt, người làm công tác quản lý hồ sơ không được tự ý mang hồ sơ ra ngoài,
không tự ý cho nghiên cứu, khai thác hồ sơ khi chưa được cấp có thẩm quyền cho
phép. Khi tổ chức, cá nhân đề nghị khai thác hồ sơ không đúng quy định, phải
kiên quyết từ chối và báo cáo cấp có thẩm quyền. Việc quy định cụ thể trách nhiệm
của từng chủ thể nhằm bảo đảm nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ
trách nhiệm, hạn chế tình trạng đùn đẩy, né tránh hoặc buông lỏng quản lý.
Hồ sơ cán bộ là cơ sở quan trọng để cấp có thẩm quyền xem xét, đánh
giá và quyết định các vấn đề về công tác cán bộ. Do đó, quản lý hồ sơ cán bộ tốt
sẽ góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng công tác cán bộ; ngược lại, quản lý hồ
sơ lỏng lẻo, thiếu chính xác có thể dẫn đến những hệ quả khó lường trong quá
trình đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ. Thực hiện nghiêm Quy định số 211 phải
được xác định là nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị
và mỗi cán bộ. Cấp ủy, tập thể lãnh đạo cần xây dựng kế hoạch triển khai phù hợp;
tổ chức rà soát, chuẩn hóa hồ sơ; phân công cụ thể cơ quan chủ trì, người chịu
trách nhiệm, tiến độ và sản phẩm; đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát việc
thực hiện. Đối với cán bộ, cần nâng cao ý thức tự giác trong kê khai, bổ sung,
cập nhật hồ sơ; tuyệt đối không che giấu, xuyên tạc, làm sai lệch thông tin. Đối
với cơ quan tổ chức cán bộ, cần nâng cao chất lượng thẩm tra, xác minh, quản
lý, lưu trữ và khai thác hồ sơ; chủ động ứng dụng công nghệ, xây dựng cơ sở dữ
liệu thống nhất, an toàn.
Quy định số 211 cũng nhấn mạnh, hồ sơ cán bộ đã được kê khai và cơ
quan có thẩm quyền xác nhận trước thời điểm ban hành Quy định vẫn có giá trị
pháp lý. Cán bộ không phải kê khai lại Quyển lý lịch cán bộ theo mẫu mới, trừ
trường hợp tuyển dụng mới hoặc cấp có thẩm quyền yêu cầu kê khai, xác minh lại.
Điều này cho thấy việc triển khai Quy định
phải được thực hiện khoa học, có lộ trình, không gây xáo trộn không cần thiết,
nhưng đồng thời phải bảo đảm nghiêm túc việc rà soát, chuẩn hóa, bổ sung và số
hóa hồ sơ theo hướng dẫn của cấp có thẩm quyền. Trong tình hình mới, khi yêu cầu
xây dựng đội ngũ cán bộ ngày càng cao, công tác quản lý hồ sơ cán bộ càng phải
được đặt đúng vị trí và tầm quan trọng. Mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu
cơ quan, đơn vị và mỗi cán bộ cần nhận thức đầy đủ rằng: quản lý tốt hồ sơ là
quản lý tốt thông tin cán bộ; quản lý tốt thông tin cán bộ là góp phần nâng cao
chất lượng công tác cán bộ; nâng cao chất lượng công tác cán bộ là góp phần xây
dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng ngày càng tốt
hơn chủ trương xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín,
ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.