Chủ tịch Tôn Đức Thắng – Chủ tịch nước đầu tiên của nước Việt Nam Thống Nhất và biểu tượng của Khối Đại đoàn kết toàn dân
Chủ tịch Tôn Đức Thắng là một trong
những nhà lãnh đạo tiêu biểu, người chiến sĩ cộng sản kiên trung, một tấm gương
sáng về đạo đức cách mạng và đặc biệt là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hơn nửa thế kỷ hoạt
động cách mạng, trải qua những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ, tù đày và
những cương vị lãnh đạo quan trọng của Đảng, Nhà nước, Mặt trận, Bác Tôn luôn
giữ trọn phẩm chất của người cộng sản, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân
dân.
Hình ảnh Bác Tôn (ST).
Sau ngày đất nước
hoàn toàn giải phóng, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI năm 1976, đồng chí
Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đầu tiên. Ở cương vị đứng đầu
Nhà nước trong những năm đầu của nước Việt Nam thống nhất, Bác Tôn tiếp tục có
những đóng góp quan trọng vào việc củng cố khối đại đoàn kết, xây dựng Nhà nước
thống nhất và động viên toàn dân vượt qua những khó khăn của thời kỳ đầu sau
chiến tranh.
Chủ tịch Tôn Đức
Thắng sinh ngày 20/8/1888 tại Cù lao Ông Hổ, làng Mỹ Hòa Hưng, tổng Định Thành,
hạt Long Xuyên, nay thuộc tỉnh An Giang. Từ một người công nhân, Bác Tôn sớm
hòa mình vào phong trào yêu nước và phong trào công nhân, từng bước đến với chủ
nghĩa Mác - Lênin và con đường cách mạng. Năm 1919, ông tham gia cuộc đấu tranh
của công nhân và thủy thủ Pháp tại Hắc Hải. Năm 1925, với vai trò là một trong
những người lãnh đạo phong trào công nhân ở Sài Gòn - Chợ Lớn, ông tham gia tổ
chức và lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son, một dấu mốc quan trọng
trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam. Những hoạt động cách mạng đó khiến
ông trở thành mục tiêu đàn áp của thực dân Pháp. Năm 1929, ông bị bắt và sau đó
bị kết án tù, đày ra Côn Đảo. Suốt 17 năm trong lao tù thực dân, người chiến sĩ
cộng sản Tôn Đức Thắng vẫn giữ vững khí tiết, kiên định lý tưởng cách mạng.
Sau Cách mạng Tháng
Tám năm 1945, Bác Tôn được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách. Đặc biệt,
từ năm 1946, ông bắt đầu tham gia lãnh đạo công tác Mặt trận, từng giữ các
cương vị quan trọng như Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, Chủ tịch
Ủy ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ năm 1946 đến khi qua đời năm 1980, Bác Tôn có 27 năm liên tục hoạt động và lãnh đạo công
tác Mặt trận. Chính quá trình hoạt động lâu dài trong công tác Mặt trận
đã góp phần hình thành hình ảnh Bác Tôn như một hiện thân của tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đặc biệt là đoàn kết
Bắc - Nam.
Tháng 9/1969, sau khi
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Quốc hội đã bầu đồng chí Tôn Đức Thắng giữ cương
vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong những năm cuối của cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cương vị Chủ tịch nước, Bác Tôn cùng tập thể
lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận động viên đồng bào, chiến sĩ cả nước kiên
cường chiến đấu, góp phần đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Sau Đại
thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước bước vào một thời kỳ lịch sử mới – thống nhất
và xây dựng đất nước trên phạm vi cả nước. Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử
bầu Quốc hội chung của cả nước được tiến hành. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội
khóa VI, diễn ra từ ngày 24/6 đến ngày 3/7/1976, Quốc hội quyết định lấy tên
nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước. Đây là một dấu mốc
có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử dân tộc: lần đầu tiên Nhà nước của một nước
Việt Nam thống nhất được thiết lập trên phạm vi cả nước sau hàng chục năm đất
nước bị chia cắt bởi chiến tranh. Trên cương vị Chủ tịch nước trong những năm
đầu đất nước thống nhất, Bác Tôn cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước tập trung
vào những nhiệm vụ lớn: củng cố Nhà nước thống nhất, tăng cường đoàn kết toàn
dân, khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội,
đồng thời bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Hình ảnh Bác Hồ và Bác Tôn (tư liệu).
Chủ tịch Hồ Chí Minh
được xem là biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì Chủ tịch Tôn Đức
Thắng là một trong những người có đóng góp đặc biệt quan trọng trong việc tổ
chức, tập hợp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết ấy. Từ năm 1946 đến
năm 1980, ông liên tục gắn bó với công tác Mặt trận. Năm 1951, khi Mặt trận
Việt Minh và Hội Liên Việt được thống nhất thành Mặt trận Liên Việt, Tôn Đức
Thắng được bầu làm Chủ tịch Mặt trận. Năm 1955, ông trở thành Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Sau năm 1977, dù tuổi cao, ông vẫn được
tín nhiệm giữ cương vị Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến khi
qua đời. Đặc biệt, tháng 2/1977, Đại hội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam
được tổ chức, thống nhất các tổ chức Mặt trận trong cả nước thành một tổ chức
Mặt trận chung là Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố khối đại
đoàn kết dân tộc trong điều kiện đất nước đã hoàn toàn thống nhất. Bác Tôn tiếp
tục được bầu làm Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến khi qua
đời. Phát biểu tại Đại hội Mặt trận Dân
tộc thống nhất Việt Nam năm 1977, Bác Tôn nhấn mạnh ý nghĩa của sự kiện thống
nhất các tổ chức Mặt trận, coi đây là “hình
ảnh đẹp đẽ của khối đại đoàn kết Bắc - Nam sum họp một nhà”. Từ thực
tiễn hoạt động của Bác Tôn có thể thấy, đại đoàn kết đối với Người không phải
là khẩu hiệu chung chung mà phải được thể hiện bằng việc tôn trọng, tập hợp, phát huy sức mạnh của các
giai tầng, các dân tộc, tôn giáo và những người Việt Nam cùng chung mục tiêu xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những năm đầu sau
thống nhất, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cả về kinh tế
- xã hội và quốc phòng, an ninh. Trong bối cảnh đó, Bác Tôn luôn thể hiện rõ
vai trò của người đứng đầu Nhà nước, cùng Đảng, Nhà nước động viên Nhân dân bảo
vệ thành quả cách mạng và chủ quyền quốc gia. Dấu mốc quan trọng là ngày
5/3/1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký Lệnh số 29-LCT công bố Lệnh tổng động viên trong cả nước để bảo vệ
Tổ quốc. Văn bản này thể hiện quyết tâm của Nhà nước và toàn dân trong việc bảo
vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Qua đó, hình ảnh Bác
Tôn không chỉ gắn với sự nghiệp đoàn kết dân tộc mà còn gắn với trách nhiệm bảo
vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc trong những thời điểm đặc biệt khó khăn.
Điều khiến Bác Tôn
được cán bộ, đảng viên và Nhân dân kính trọng không chỉ bởi những cương vị cao
cấp mà còn bởi phẩm chất đạo đức và phong cách sống giản dị, khiêm tốn. Từ
người công nhân Ba Son, người tù Côn Đảo đến người đứng đầu Nhà nước, Bác Tôn
vẫn giữ sự nhất quán trong lối sống và cách ứng xử: gần gũi, chân thành, khiêm
tốn, hết lòng vì công việc chung. Các tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của Bác
Tôn nhấn mạnh phẩm chất cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư, tinh thần hết lòng, hết sức phục vụ cách
mạng và Nhân dân.Năm 1958, nhân dịp Bác Tôn tròn 70 tuổi, Đảng và Nhà nước
quyết định tặng Người Huân chương Sao
Vàng – phần thưởng cao quý nhất của Nhà nước Việt Nam lúc bấy giờ. Bác
Tôn là người đầu tiên được tặng Huân
chương Sao Vàng. Trong lễ trao tặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Bác
Tôn là người “rất xứng đáng” với phần thưởng cao quý này. Sự ghi nhận ấy không
chỉ dành cho những đóng góp to lớn của Bác Tôn đối với cách mạng mà còn thể
hiện sự trân trọng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với một người cộng sản đã
dành trọn cuộc đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của Nhân dân.
Đất nước đã bước sang
một giai đoạn phát triển mới, với nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Trong bối
cảnh đó, bài học về đại đoàn kết mà Chủ tịch Tôn Đức Thắng để lại vẫn còn
nguyên giá trị. Đó trước hết là bài học lấy
lợi ích của quốc gia - dân tộc và quyền, lợi ích chính đáng của Nhân dân làm
điểm tương đồng để tập hợp, đoàn kết; tôn trọng những khác biệt không
trái với lợi ích chung; phát huy dân chủ, khơi dậy tinh thần trách nhiệm, sức
sáng tạo và khát vọng cống hiến của mỗi người dân. Đó cũng là bài học về nêu gương của người cán bộ, đảng viên.
Bác Tôn cho thấy sức thuyết phục của người lãnh đạo không chỉ đến từ chức vụ mà
còn từ phẩm chất, lối sống, sự tận tụy và khả năng quy tụ lòng người. Trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, việc tiếp tục củng cố khối đại đoàn
kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của Nhân dân, đồng bào các dân tộc, các tôn
giáo, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và mọi lực lượng xã hội là yêu cầu
có ý nghĩa chiến lược.
Ngày 30/3/1980, Chủ
tịch Tôn Đức Thắng qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 91 tuổi. Sự ra đi của Người để
lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Nhưng
những gì Bác Tôn để lại không chỉ là những mốc son trong lịch sử cách mạng mà
còn là một di sản tinh thần về lòng
trung thành với Đảng, với Tổ quốc; về tinh thần đại đoàn kết; về đạo đức cách
mạng và phong cách sống giản dị, khiêm nhường. Từ người công nhân Ba Son
đến người tù Côn Đảo; từ người cán bộ Mặt trận đến Chủ tịch nước đầu tiên của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cuộc đời Bác Tôn là một hành trình
nhất quán của lòng yêu nước, ý chí cách
mạng và tinh thần phụng sự Nhân dân. Trong những năm tháng đầu tiên của
đất nước thống nhất, Bác Tôn đã góp phần quan trọng vào việc củng cố sự thống
nhất về Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân và động viên toàn dân
vượt qua khó khăn, bảo vệ thành quả cách mạng. Hơn bốn thập niên sau ngày Bác
Tôn đi xa, tư tưởng và tấm gương của Người vẫn là nguồn cảm hứng để mỗi cán bộ,
đảng viên tiếp tục rèn luyện phẩm chất đạo đức, gần dân, trọng dân, lắng nghe
Nhân dân và phát huy sức mạnh đại đoàn kết. Bác Tôn đã đi vào lịch sử không chỉ với tư cách một nhà lãnh đạo cách
mạng, một Chủ tịch nước, mà còn như một người cộng sản mẫu mực, một biểu tượng
đẹp của tình đoàn kết dân tộc. Tấm gương ấy vẫn còn nguyên giá trị trong hành
trình xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, giàu mạnh, văn minh và
hạnh phúc.