Vận dụng vấn đề hạnh phúc trong tư tưởng Hồ Chí Minh vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Theo Chủ tịch
Hồ Chí Minh, hạnh phúc là được cống hiến trọn vẹn cho lý tưởng cao đẹp. Hạnh phúc không chỉ là thụ hưởng mà là quá trình tạo ra giá
trị cho xã hội. Với tinh thần người chiến sĩ cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem
hạnh phúc lớn nhất của đời mình là cống hiến trọn vẹn cho dân tộc. Khát vọng đó
là nguồn sức mạnh giúp Người vượt qua gian khổ, tìm đường cứu nước, cứu dân.
Trên cương vị lãnh tụ, Người yêu cầu Đảng, Chính phủ phải “gắng sức làm cho ai
nấy đều có phần hạnh phúc”. Mỗi cán bộ, đảng viên cần tìm thấy ý nghĩa trong
việc cống hiến vì hạnh phúc dân tộc, rèn luyện bản thân ít ham muốn vật chất,
ghi sâu chữ “công bình, chính trực”. Hạnh phúc của dân tộc Việt Nam là lý tưởng
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi trong suốt cuộc đời. Tư tưởng Hồ Chí Minh về
hạnh phúc đã được bảo chứng bằng chính cuộc đời của Người, một cuộc đời thanh
cao và luôn sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân “để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt
khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân”. Có
thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã mở ra kỷ nguyên hạnh phúc
cho toàn thể dân tộc Việt Nam. Theo Người, hạnh phúc gắn liền độc lập, tự do. “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” là tiêu ngữ mà Người đặt cho
nhà nước dân chủ đầu tiên ở Việt Nam. Hạnh phúc là mục tiêu cao nhất và là điều
kiện giữ vững độc lập, tự do. Người nói: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập
rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì cũng không làm gì”. Ăn no, mặc đủ, được
học hành là điều kiện tối thiểu để nhân dân cảm nhận giá trị của độc lập. Hạnh phúc
còn là động lực thúc đẩy đấu tranh không chỉ của dân tộc Việt Nam mà của nhân
loại bị áp bức. Như Romesh Chandra từng khẳng định: “Ở đâu chiến đấu cho công
lý và hòa bình, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”. Như vậy, không
chỉ nỗ lực đấu tranh để hiện thực hóa giá trị hạnh phúc, gắn liền độc lập, tự
do cho dân tộc Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đem lại hạnh phúc thực sự,
triệt để cho nhân loại cần lao. Cũng theo Người, hạnh phúc gắn với công bằng, bình
đẳng. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem hạnh phúc
là quyền lợi chính đáng của mọi dân tộc, mọi con người. Người trích dẫn tư
tưởng Thomas Jefferson về quyền “mưu cầu hạnh phúc” và mở rộng thành tuyên ngôn
cho mọi dân tộc: “Dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự
do”. Theo Người, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm hạnh
phúc thật sự cho mọi người: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại, đem
lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng,
bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người,
niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng nhận
thức từ hạnh phúc con người Việt Nam đến hạnh phúc nhân loại; chỉ có chế độ xã
hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản mới bảo đảm con người có hạnh phúc trong công
bằng, bình đẳng thật sự và triệt để. Bên cạnh đó, hạnh phúc là sự sẻ chia và đoàn
kết. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn
thắng lợi thì phải dựa vào sức mạnh tập thể. Sẻ chia, đoàn kết là cách vượt qua
khó khăn và là con đường xây dựng hạnh phúc bền chặt. Người luôn cổ vũ tinh
thần “đặt lợi ích cách mạng, của Đảng, của Nhân dân lên trên hết”. Quan niệm
của Người về hạnh phúc thể hiện sự tiếp biến và làm giàu truyền thống đoàn kết
dân tộc, gắn với tinh thần nhân văn cao đẹp. Hạnh phúc là sẻ chia và đoàn kết,
ở đây không hiểu là chia nhỏ, chia đều hoặc cào bằng, mà là sự quan tâm chỉ dẫn
giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa hạnh phúc cá thể (hạnh phúc riêng) và hạnh
phúc cộng đồng (hạnh phúc chung). Người yêu cầu mỗi con người phải tự chống lại
“chủ nghĩa cá nhân” bên trong mình mà “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của
Nhân dân lên trên hết, trước hết”. Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã tiếp biến và làm giàu truyền thống đoàn kết của dân tộc. Hạnh phúc là chia sẻ
và đoàn kết, vừa mang đậm bản sắc tinh hoa văn hóa Việt Nam, vừa mang đậm chủ
nghĩa nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đóng góp quan trọng vào nhận thức về hạnh
phúc của nhân loại, cổ vũ nhân loại tiến bộ xây dựng thế giới tốt đẹp hơn. Mặt
khác, hạnh phúc
là trạng thái phát triển cân bằng và bền vững. Hạnh phúc là sự hài hòa giữa vật chất và tinh thần. Chủ
tịch Hồ Chí Minh phát động nhiều phong trào như “tuần lễ vàng”, “hũ gạo tình
thương” để khắc phục đói nghèo, khuyến khích tăng gia, tiết kiệm để tạo dựng
hạnh phúc bền vững. Người luôn chú trọng đời sống tinh thần, đề xuất xóa mù
chữ, phát triển dân trí, trồng cây gây rừng, nâng cao chất lượng sống tinh
thần. Người đặc biệt quan tâm các đối tượng yếu thế, gia đình thương binh, liệt
sĩ, vùng khó khăn... Tư tưởng của Người mở rộng khái niệm hạnh phúc gắn với
phát triển hài hòa và bền vững. Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc là sự kết
tinh giữa truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa nhân loại và chủ nghĩa Mác -
Lênin, tạo nên cẩm nang dẫn dắt dân tộc Việt Nam đi từ kỷ nguyên độc lập đến kỷ
nguyên phát triển mới.

Vậy, chúng
ta cần vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc như thế nào trong kỷ nguyên
vươn mình của dân tộc Việt Nam? Tư tưởng Hồ Chí
Minh về hạnh phúc là cơ sở lý luận hình thành, phát triển quan điểm Đảng ta về
đặc trưng hạnh phúc của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. “Hạnh phúc” là một
thành tố cấu thành nên đặc trưng thứ tư của xã hội xã hội chủ nghĩa trong Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam (Cương lĩnh 1991) và Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm
2011). Điều này khẳng định sự kiên định trong nhận thức của Đảng về vị trí, vai
trò của hạnh phúc với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước những
biến động thời đại. Thực tiễn gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện
đất nước cho thấy, việc xem hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, là
bài học kinh nghiệm quý báu quyết định mọi thành công của sự nghiệp cách mạng.
Qua đó, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục phát triển vấn đề hạnh phúc lên tầm cao
mới, đưa vào quan điểm chỉ đạo tổng quát, nhằm khơi dậy “khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc”; thực hiện đồng thời nhiệm vụ cụ thể hóa “mọi chính
sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
và hạnh phúc của nhân dân”. Tuy nhiên, vấn đề hạnh phúc chưa thực sự được khẳng
định tương xứng với tầm vóc và giá trị trong giai đoạn cách mạng chủ nghĩa xã hội
như di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc đã chỉ ra. Trong bước chuyển mình
của dân tộc vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt
Nam, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc cần chú trọng thực hiện đồng
bộ các nhiệm vụ sau:
Một
là, củng cố và nâng cao nhận
thức của Đảng, chính quyền các cấp về tầm quan trọng của hạnh phúc trong hoạch
định chủ trương, đường lối, chính sách xây dựng đất nước vững vàng bước vào kỷ
nguyên phát triển mới. Mặc dù hạnh phúc tùy thuộc vào cảm nhận chủ quan của cá
nhân mỗi con người, nhưng lại phản ánh sâu sắc những điều kiện thực tiễn khách
quan; do vậy, “hạnh phúc của Nhân dân là giá trị cao nhất, là mục tiêu cuối
cùng của mọi cá nhân, gia đình, cộng đồng xã hội và cũng là của nền hành chính
quốc gia. Xây dựng một xã hội vì hạnh phúc của Nhân dân là mục tiêu được mong
đợi nhất của mọi chính sách của Đảng và Nhà nước”. Nhiệm
vụ của công tác tuyên truyền là nhằm định hướng đội ngũ cán bộ, đảng viên luôn
có ý thức gắn hạnh phúc của bản thân với hạnh phúc của quốc gia, dân tộc; không
ngần ngại “đi trước” sẵn sàng cống hiến “quên mình” vì hạnh phúc của cộng đồng,
xã hội.
Hai
là, thiết lập thang đo chỉ số hạnh phúc, xem chỉ số hạnh
phúc là thước đo trình độ phát triển quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.
Thế giới hiện đại đã có nhiều phương pháp đo lường hạnh phúc ở nhiều cấp độ
khác nhau; do vậy, việc lượng hóa hạnh phúc dựa trên cơ sở “nền tảng lý luận”
tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc là tất yếu đáp ứng yêu cầu phát triển của
thời đại, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Chuẩn hóa thang đo chỉ số
hạnh phúc chung toàn quốc, chỉ số hạnh phúc của các nhóm xã hội để tất cả mọi
người dân đều được hưởng hạnh phúc thực sự trong thực tế đúng theo di nguyện
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là làm cho “ai nấy đều có phần hạnh phúc” trong kỷ
nguyên phát triển mới. Sử dụng kết quả đo lường hạnh phúc làm tiêu chuẩn xây
dựng đất nước, không chỉ có ý nghĩa hiện thực hóa khát vọng hạnh phúc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, mà rộng hơn còn trực tiếp góp phần thúc đẩy tiến trình phát
triển nhân loại theo hướng tiến bộ và nhân văn.
Ba là, thực hiện đồng bộ, hiệu quả
“Bảy định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn
mình của dân tộc”; trong đó, phát triển kinh tế với ưu tiên hàng đầu tập trung
vào phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo hướng đến nâng cao nền
tảng vật chất cho một nước Việt Nam hạnh phúc. Người dân có thu nhập cao, việc
làm ổn định, bảo đảm mức sống của con người và hạnh phúc. Cùng với kinh tế, đẩy
mạnh cải thiện an sinh xã hội bằng hệ thống chính sách toàn diện bảo đảm sự
công bằng cho mọi người dân trong phân phối, tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm,
bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, nhà ở, văn hóa… Ngoài hỗ trợ tài chính cho các
nhóm yếu thế thì Đảng và Nhà nước cần quan tâm xây dựng các chính sách tạo sinh
kế để họ có thể tự nuôi sống bản thân và quay lại đóng góp cho xã hội.
Hạnh phúc
của con người không đơn thuần là sự thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần mà còn
liên quan chặt chẽ đến các nhu cầu chính trị. Trong thực tế, chính trị là yếu
tố quan trọng ảnh hưởng đến hạnh phúc của người dân. Bởi lẽ, một nền chính trị
bất ổn sẽ không thể tạo ra một môi trường sống an yên, hạnh phúc cho người dân.
Vì vậy, định hướng chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm là tiền đề xây dựng “bộ
máy mới”, hướng tới mục tiêu quản trị tốt, phát huy tối đa bản chất tốt đẹp của
chế độ xã hội chủ nghĩa, nơi tất cả quyền lực là của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân đúng theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bốn là, xây dựng xã hội Việt Nam hạnh phúc trong kỷ nguyên
phát triển mới với những con người “sống với
nhau có tình có nghĩa”. Con người không thể hạnh phúc, nếu đủ đầy vật chất mà
thiếu thốn tình nghĩa, một quốc gia không thể hưng thịnh, nếu thiếu chủ nghĩa
nhân văn. Điều này đòi hỏi chúng ta phải hết sức coi trọng vai trò của văn hóa,
đạo đức trong nâng cao hạnh phúc của người dân. Chủ tịch Hồ Chí
Minh từng chỉ rõ, đạo đức là phương tiện chuyển tải văn hóa; trong khi đó, văn
hóa là biểu tượng ý nghĩa về sinh kế, hạnh phúc của người dân. Con người cần
văn hóa để khai sáng trí tuệ, nâng cao đời sống tinh thần. Dưới tác động mạnh mẽ
của chuyển đổi số, văn hóa và đạo đức truyền thống đang biến đổi sâu sắc và đặt
ra nhiều thách thức cần giải quyết. Đảng và Nhà nước cần quan tâm bảo vệ quyền
và lợi ích văn hóa cho người dân, không ngừng nâng cao chất lượng đời sống tinh
thần cho nhân dân, sử dụng văn hóa để nuôi dưỡng tâm hồn con người,…; đồng
thời, các cấp cần chỉ đạo tăng cường công tác giáo dục lý tưởng và giá trị sống
đúng đắn, tích cực để mỗi người dân đều có một đời sống ý nghĩa trọn vẹn, chung
tay xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Năm là, xây dựng hệ sinh thái Việt Nam hạnh phúc bằng tăng
cường bảo vệ môi trường trong kỷ nguyên phát triển mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn quan tâm sát sao và có những chỉ dẫn cụ thể cách ứng xử tích cực với môi
trường, tạo dựng nền tảng sinh thái hạnh phúc bền vững cho đất nước. Trong kỷ
nguyên phát triển mới, hạnh phúc của người dân không giới hạn ở cơm ăn, áo mặc,
học hành,… mà còn là theo đuổi một không gian sống tốt. Hơn nữa, hiện nay, môi
trường sinh thái đang ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến Chỉ số hạnh
phúc quốc gia. Do vậy, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục thực hiện di huấn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường thường xuyên, liên tục
một cách toàn diện, đồng bộ từ nâng cao khả năng “kiểm soát xanh” của Chính phủ
bằng tăng cường hiệu quả từ việc bảo vệ môi trường; đưa ý thức bảo vệ môi
trường thành ý thức tự giác trong mọi hoạt động đời sống xã hội, xây dựng văn
hóa bảo vệ môi trường sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân; ưu tiên phát triển
nông nghiệp sinh thái, hình thành nền “kinh tế xanh” bền vững, chủ động ứng phó
với biến đổi khí hậu;… Việc hiện thực hóa một Việt Nam hạnh phúc trong kỷ
nguyên phát triển mới đòi hỏi phải tạo ra một môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội cân bằng, hài hòa và đáng sống.
Tư
tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc là di sản tinh thần vô giá, là kim chỉ nam để
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta không ngừng phấn đấu xây dựng một đất nước
“dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, trong đó mỗi người dân đều
có cơ hội sống hạnh phúc, ấm no, tự do, an toàn và phát triển toàn diện. Trong
bối cảnh mới với khát vọng vươn lên mạnh mẽ, tư tưởng ấy càng cần được thấm nhuần
sâu sắc hơn nữa trong mọi chủ trương, chính sách, trong hành động của mỗi cán bộ,
đảng viên và trong từng bước đi của công cuộc đổi mới, hội nhập. Bảo đảm hạnh
phúc cho nhân dân không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực căn cốt để phát triển
đất nước nhanh, bền vững, vì con người và lấy con người làm trung tâm. Đó chính
là con đường thiết thực và đúng đắn nhất để hiện thực hóa khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới.