Sau gần mười năm đi khắp
các châu lục để tìm đường giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đánh dấu
một bước ngoặt mang ý nghĩa lịch sử. Đó là vào tháng 7 năm 1920,
khi đọc Luận cương về vấn đề dân tộc
và thuộc địa của Lênin đăng trên Báo Nhân đạo, Nguyễn Ái Quốc đã tìm
thấy lời giải cho câu hỏi lớn mà Người đau đáu suốt nhiều năm: Muốn cứu nước và
giải phóng dân tộc phải đi theo con đường nào, chủ nghĩa nào? Từ ánh sáng của
Luận cương, Người đã lựa chọn con đường cách mạng vô sản - một quyết định mang
tính bước ngoặt, làm thay đổi vận mệnh dân tộc và mở ra một thời đại mới trong
lịch sử Việt Nam.
Sự gặp gỡ giữa khát vọng dân tộc và chân lý thời đại
Với
khát vọng cháy bỏng, ngày 5/6/1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Bến
Nhà Rồng ra đi tìm con đường cứu nước. Trong gần mười năm bôn ba qua nhiều quốc
gia và châu lục, Người đã trực tiếp chứng kiến sự giàu có của các nước tư bản
nhưng cũng nhìn thấy sự bóc lột, bất công của các dân tộc thuộc địa. Người tìm
hiểu nhiều học thuyết, khảo nghiệm nhiều con đường cứu nước nhưng vẫn chưa tìm
thấy lời giải đáp thỏa đáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Bước
ngoặt lịch sử đến với Nguyễn Ái Quốc vào tháng 7 năm 1920, khi Người đọc Luận
cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Trên hai số báo đăng ngày
16 và 17/7/1920 đã đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc
và vấn đề thuộc địa của Lênin (để trình bày tại Đại hội II của Quốc tế Cộng
sản). Trong tác phẩm này, Lênin đã lên án, phê phán chủ nghĩa “sô vanh” của các
nước đế quốc, từ đó khẳng định quyền tự quyết của các dân tộc thuộc địa. Đặc
biệt, Lênin xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng
vô sản. Từ đó, Lênin yêu cầu các đảng cộng sản lớn trên thế giới phải có trách
nhiệm giúp đỡ cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Đây là
lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc thấy vấn đề giải phóng dân tộc của Việt Nam được
đặt đúng vị trí trong lý luận cách mạng.
Luận
cương đã thu hút sự chú ý của Nguyễn Ái Quốc ngay lần đầu tiên Người đọc được
tên của nó. Đây là vấn đề làm Người luôn trăn trở, đau đáu trong suốt nhiều năm
mà chưa tìm ra được sự giải đáp thỏa đáng. Trong Luận cương có những thuật ngữ
chính trị khó hiểu nhưng sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần, cuối cùng Người cũng
đã hiểu được phần chính của nó. Người đã vỡ òa trong niềm vui sướng, đã tìm
thấy được con đường cứu nước chân chính - con đường cách mạng vô sản.
Sau
này, kể lại giây phút lịch sử ấy, Người viết rằng: Luận cương của Lênin làm cho
tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát
khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần
chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho
chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Đó không chỉ là niềm vui của một người đi tìm chân lý, mà còn mở
ra một tương lai tươi sáng cho cả dân tộc Việt Nam.
Trong
bài thơ Người đi tìm hình của Nước, nhà thơ Chế Lan Viên đã
viết:
Luận cương đến Bác Hồ. Và Người đã khóc
Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lênin
Bốn bức tường im nghe Bác lật từng trang sách gấp
Tưởng bên ngoài, đất nước đợi mong tin.
Bác reo lên một mình như nói cùng dân tộc:
“Cơm áo là đây! Hạnh phúc đây rồi”
Từ
ánh sáng của Luận cương, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến kết luận có ý nghĩa lịch sử:
chỉ có cách mạng vô sản mới có thể giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức,
thuộc địa. Người khẳng định độc lập dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội;
giải phóng dân tộc phải gắn với giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Với sự kiện bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc
tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng
Xã hội Pháp (tháng 12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người chiến sĩ cộng sản
đầu tiên của Việt Nam. Đây
là bước chuyển biến căn bản từ chủ nghĩa yêu nước đến lập trường cộng sản, từ
người yêu nước trở thành người chiến sĩ cộng sản quốc tế.
Nguyễn Ái Quốc phát biểu tại Đại hội
lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp tháng 12/1920 (Ảnh tư liệu)
Sự
lựa chọn ấy không phải là sự tiếp thu máy móc lý luận của Lênin, mà là kết quả
của quá trình khảo nghiệm thực tiễn, suy ngẫm độc lập và sáng tạo. Hồ Chí Minh
đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam,
đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đồng thời chuẩn bị tiền đề để
tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chính tư duy độc lập, sáng tạo ấy đã làm nên giá trị
đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ánh sáng của Luận cương soi đường cách mạng Việt Nam
Sau khi lựa chọn con đường cách mạng vô sản để
giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải
thành lập một chính đảng để lãnh đạo cách mạng ở Việt Nam. Bằng những hoạt động
rất tích cực, Người đã chuẩn bị những điều kiện, tiền đề về tư tưởng, chính trị
và tổ chức để tiến đến thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người tích cực hoạt động
trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, sáng lập tờ báo Người cùng khổ để lên án, tố cáo tội ác
của chủ nghĩa thực dân. Bên cạnh việc lên án chủ nghĩa thực dân, Người đã thành
lập tổ chức làm hạt nhân cho Đảng sau này là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên,
mở các lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu (Trung Quốc). Từ những học viên đầu
tiên đó, Người đã đưa về nước thực hiện phong trào vô sản hóa ở nước ta trong
những năm 1928, 1929 và cử cán bộ đi đào tạo tại Liên Xô, Trung Quốc. Với sự hoạt
động tích cực đó, ba tổ chức cộng sản đã lần lượt ra đời: Đông Dương Cộng sản Đảng,
An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Thực hiện sự chỉ đạo của
Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị hợp nhất ba tổ chức cộng sản
và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hồng Kông, Trung Quốc. Hội nghị đã
thông qua Cương lĩnh chính trị của Đảng, xác định những nội dung cơ bản của
cách mạng Việt Nam về lực lượng, phương pháp, mục tiêu, con đường của cách mạng
Việt Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng đối với cách mạng
Việt Nam: chấm dứt sự khủng hoảng về con đường cứu nước kéo dài nhiều thập kỷ,
mở ra một con đường cứu nước mới và định hướng sự phát triển của đất nước Việt
Nam trong tương lai.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã giành thắng lợi, lật đổ
ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa dân tộc Việt Nam bước sang một
trang sử mới. Từ thân phận nô lệ, Nhân dân ta trở thành người làm chủ đất nước,
mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng Tháng Tám
năm 1945 (Ảnh tư liệu)
Trải
qua hơn một thế kỷ, sự kiện Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương của Lênin vẫn còn
nguyên ý nghĩa, là bước ngoặt quyết định hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và mở
đầu cho sự chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước của dân tộc. Sự kiện
này để lại bài học quý giá về khát vọng đi tìm chân lý, về bản lĩnh chính trị,
về tư duy độc lập, sáng tạo của Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh đất nước đang đẩy
mạnh công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững, xây dựng nền kinh tế độc
lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, những bài học ấy vẫn tiếp tục
soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong
bối cảnh đất nước đang bước vào kỷ nguyên vươn mình, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng
viên cần phát huy tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo. Đồng thời, phát huy tinh
thần “dám nghĩ; dám nói; dám làm; dám chịu trách
nhiệm; dám đổi mới, sáng tạo; dám đương đầu với khó khăn, thử thách; dám hành động
vì lợi ích chung”. Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân hành động quyết liệt
để biến khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trở thành hiện thực.
Ánh sáng
từ Luận cương của Lênin không chỉ giúp Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường giải
phóng dân tộc, mà còn mở đầu cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và sự ra đời
của Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra một con đường phát triển cho tương lai của
dân tộc. Giá trị lớn nhất mà sự kiện Nguyễn Ái Quốc đến với Luận cương của
Lênin để lại cho hôm nay không chỉ là lựa chọn con đường cách mạng đúng đắn mà
còn là bài học về tư duy độc lập, khát vọng tìm ra chân lý và bản lĩnh đổi mới.
Đó cũng là những phẩm chất cần thiết trong quá trình phát triển đất nước hiện
nay.