image banner
  
Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc – Kim chỉ nam cho công tác Mặt trận hiện nay
Màu chữ
Đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng xuyên suốt trong di sản Hồ Chí Minh, đồng thời là đường lối chiến lược của Đảng trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “lấy dân làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc xây dựng và phát huy vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp mọi lực lượng yêu nước. Trong giai đoạn phát triển mới, tư tưởng ấy tiếp tục được kế thừa, cụ thể hóa, đặt ra yêu cầu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải thực sự gần dân, lắng nghe ý kiến và  phát huy quyền làm chủ của Nhân dân góp phần củng cố đồng thuận xã hội.
anh tin bai

Ảnh: Một trong những di sản vô giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta chính là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc.

 Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc không phải là giải pháp tình thế mà là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng. Người nhiều lần nhấn mạnh vai trò của đoàn kết đối với sự nghiệp cách mạng và khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công”. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm và coi sức mạnh của Nhân dân là nguồn lực quyết định. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu phải tin dân, dựa vào dân, chăm lo đời sống của Nhân dân và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Trong tác phẩm Dân vận, Người nhấn mạnh: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng”. Tư tưởng đó cho thấy đoàn kết không thể chỉ dừng ở lời kêu gọi, mà phải được thể hiện bằng phương thức tập hợp, vận động và phát huy sức mạnh của quần chúng.

Đại đoàn kết theo Hồ Chí Minh vì thế là đoàn kết rộng rãi, lâu dài, chân thành; lấy lợi ích chung của dân tộc làm điểm tương đồng; tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích quốc gia – dân tộc. Đó là tư tưởng có giá trị bền vững, không chỉ trong đấu tranh giành và bảo vệ độc lập mà còn trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là quan tâm đến việc tổ chức lực lượng để biến tinh thần đoàn kết thành sức mạnh thực tiễn. Mặt trận dân tộc thống nhất chính là một phương thức quan trọng để thực hiện mục tiêu đó. Qua các thời kỳ cách mạng, từ Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, hình thức tổ chức có sự phát triển phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn, nhưng mục tiêu xuyên suốt vẫn là tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của các tầng lớp Nhân dân vì lợi ích của dân tộc.

Tại Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II năm 1961, Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của Mặt trận trong việc đoàn kết các tầng lớp nhân dân yêu nước, tạo nên sức mạnh chung của dân tộc. Người cũng yêu cầu cán bộ làm công tác Mặt trận phải biết lắng nghe ý kiến của những người ngoài Đảng, tôn trọng những điều hay, điều tốt của mọi người và kiên trì làm tốt công tác Mặt trận. Điều đó cho thấy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Mặt trận không phải là một tổ chức chỉ thực hiện công tác tuyên truyền, vận động theo một chiều. Mặt trận phải là nơi tập hợp, quy tụ, phát huy những điểm tương đồng, đồng thời lắng nghe và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp Nhân dân. Đây chính là cơ sở tư tưởng quan trọng để nhìn nhận vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị hiện nay

 Đảng ta luôn xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc, đây là truyền thống quý báu của dân tộc, là nguồn sức mạnh to lớn và nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong điều kiện phát triển mới, đại đoàn kết ngày càng được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với dân chủ, quyền làm chủ của Nhân dân, việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân và xây dựng đồng thuận xã hội. Từ “đoàn kết để chiến thắng” trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập, yêu cầu đặt ra hôm nay là “đoàn kết để phát triển”. Sức mạnh của khối đại đoàn kết phải được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, khơi dậy trí tuệ, sáng tạo, tinh thần tự lực, tự cường và trách nhiệm của mỗi người dân đối với đất nước. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, xác định Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

 Đại đoàn kết là đường lối chiến lược thì Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một trong những thiết chế quan trọng để tổ chức, tập hợp và phát huy sức mạnh ấy trong đời sống chính trị - xã hội. Điều 9 Hiến pháp quy định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; có chức năng tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; phản ánh ý kiến, kiến nghị của Nhân dân đến các cơ quan nhà nước và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Những quy định đó cho thấy vai trò của Mặt trận ngày nay đã được xác định rõ bằng Hiến pháp và pháp luật. Mặt trận vừa tập hợp các tầng lớp Nhân dân, vừa góp phần thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân; vừa tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, vừa thực hiện giám sát, phản biện xã hội. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận Mặt trận như một cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Cầu nối ấy phải được hiểu theo cả hai chiều. Một mặt, Mặt trận tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt khác, Mặt trận phải nắm bắt, tập hợp và phản ánh tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị chính đáng của Nhân dân đến các cơ quan có thẩm quyền. Khi hai chiều đó được thực hiện thông suốt, dân chủ được phát huy, những vấn đề chính đáng của Nhân dân được quan tâm giải quyết và niềm tin xã hội được củng cố, khối đại đoàn kết sẽ có nền tảng vững chắc hơn.

 Thực tiễn đặt ra yêu cầu công tác Mặt trận phải đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động, hướng nhiều hơn về cơ sở, nơi diễn ra trực tiếp đời sống của Nhân dân. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 xác định Mặt trận và các tổ chức thành viên tiếp tục hướng mạnh về cơ sở, kịp thời nắm bắt, phản ánh tâm tư, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân; thực hiện dân chủ, đồng thuận xã hội và củng cố mối liên hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Đây là yêu cầu rất gần với tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận. Người từng căn dặn cán bộ phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Với công tác Mặt trận, tinh thần ấy càng có ý nghĩa thiết thực: muốn tập hợp được Nhân dân thì trước hết phải hiểu Nhân dân; muốn tạo đồng thuận thì phải lắng nghe; muốn vận động Nhân dân thì phải giải quyết những vấn đề chính đáng từ thực tiễn cuộc sống. Vì vậy, đổi mới Mặt trận trước hết phải bắt đầu từ cơ sở. Cán bộ Mặt trận phải gần dân hơn, sát dân hơn; phương thức tập hợp phải linh hoạt hơn; khả năng tiếp nhận và phản hồi ý kiến của Nhân dân phải nhanh chóng, thực chất hơn.

 Trong điều kiện chuyển đổi số, việc đổi mới phương thức hoạt động càng trở nên cần thiết. Nghị quyết Đại hội XI MTTQ Việt Nam đã xác định một chương trình hành động riêng về tham gia phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số và đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận. Chuyển đổi số vì thế không chỉ là thay đổi công cụ làm việc. Quan trọng hơn, đó là cơ hội để Mặt trận mở rộng phương thức tiếp cận Nhân dân, nâng cao khả năng nắm bắt thông tin từ cơ sở và tăng tính tương tác trong quá trình vận động, tập hợp Nhân dân. Đại đoàn kết chỉ thực sự phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Thông qua các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước, hoạt động an sinh xã hội, chăm lo người nghèo, hỗ trợ người yếu thế, vận động Nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đời sống văn hóa, bảo vệ môi trường và xây dựng khu dân cư đoàn kết, Mặt trận góp phần biến tinh thần đoàn kết thành những kết quả cụ thể trong đời sống. Nghị quyết Đại hội XI của MTTQ Việt Nam xác định rõ yêu cầu động viên các tầng lớp Nhân dân thi đua học tập, lao động, sáng tạo, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống Nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Trong các giai đoạn cách mạng, đoàn kết muốn bền vững phải được xây dựng trên cơ sở niềm tin. Niềm tin của Nhân dân được hình thành từ những điều rất cụ thể: chủ trương đúng đắn, chính sách phù hợp, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng được tôn trọng, những kiến nghị chính đáng được lắng nghe, những vấn đề dân sinh được quan tâm giải quyết và quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện thực chất. Bởi vậy, củng cố đại đoàn kết không thể tách rời việc chăm lo đời sống Nhân dân, thực hiện dân chủ, tăng cường đối thoại, nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước. Đây cũng là nơi tư tưởng Hồ Chí Minh về “dân là gốc” tiếp tục được soi sáng trong thực tiễn hôm nay. Mặt trận muốn làm tốt vai trò của mình phải thực sự là nơi Nhân dân có thể gửi gắm tâm tư, nguyện vọng; đồng thời phải góp phần để những tiếng nói chính đáng ấy được phản ánh và tiếp nhận trong quá trình xây dựng, thực thi chủ trương, chính sách. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh đã trở thành một giá trị bền vững trong đường lối cách mạng Việt Nam. Qua mỗi giai đoạn, tư tưởng ấy được bổ sung, phát triển và thể chế hóa phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong giai đoạn phát triển mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đứng trước yêu cầu tiếp tục đổi mới để thực hiện tốt hơn vai trò nòng cốt chính trị trong củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là đổi mới để gần dân hơn; đổi mới để lắng nghe Nhân dân tốt hơn; đổi mới để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân hiệu quả hơn; đổi mới để giám sát, phản biện xã hội thực chất hơn; đổi mới để tập hợp và phát huy tốt hơn trí tuệ, nguồn lực, sức sáng tạo của toàn dân.

 Từ tư tưởng Hồ Chí Minh đến thực tiễn hôm nay, có thể thấy một mạch xuyên suốt: đoàn kết phải bắt đầu từ Nhân dân, được xây dựng trên cơ sở lợi ích chung của dân tộc, được củng cố bằng niềm tin và được chuyển hóa thành hành động vì mục tiêu phát triển đất nước. Trong hành trình đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng: là nơi tập hợp lòng dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội và góp phần thắt chặt mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Phát huy tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh vì thế không chỉ là tiếp nối một di sản tư tưởng, mà còn là yêu cầu của thực tiễn. Khi mỗi người dân được tôn trọng, được lắng nghe, được tham gia và có điều kiện đóng góp cho đất nước, sức mạnh đại đoàn kết sẽ tiếp tục trở thành nguồn lực quan trọng để Việt Nam vững bước phát triển trong giai đoạn mới.

Huyền Trang
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0
Xem thêm
ipv6 ready