Tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo và giá trị vận dụng trong kỷ nguyên phát triển mới
Sinh thời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Nếu nước
độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý
gì”. Câu nói ấy không chỉ thể hiện tầm nhìn chiến lược của một nhà cách
mạng vĩ đại mà còn khẳng định một chân lý xuyên suốt trong tư tưởng của Người:
mọi thành quả của cách mạng đều phải hướng đến con người, vì cuộc sống ấm no,
hạnh phúc của nhân dân.
Trong
suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm
đặc biệt đến đời sống của nhân dân. Đối với Người, mục tiêu cao nhất của cách
mạng không chỉ là giành độc lập cho dân tộc mà còn phải mang lại cuộc sống ấm
no, tự do và hạnh phúc cho mỗi người dân. Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo không đơn
thuần là nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà còn là mục tiêu nhân văn sâu sắc, phản
ánh bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Hơn 80 năm kể từ ngày đất
nước giành được độc lập, tư tưởng ấy vẫn vẹn nguyên giá trị, trở thành nền tảng
tư tưởng cho các chủ trương, chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước. Đặc
biệt, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới theo tinh thần
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa
đói, giảm nghèo tiếp tục được kế thừa, vận dụng và phát triển, góp phần hiện
thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và
hạnh phúc.
Ngay
sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước ta đứng trước muôn vàn
khó khăn, thách thức. Nạn đói khủng khiếp do chế độ thực dân, phát xít gây ra
đã cướp đi sinh mạng của hơn hai triệu đồng bào. Trước tình cảnh đó, tại phiên
họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác
định chống đói là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu của chính quyền cách mạng khi nhấn
mạnh: “Nhân dân ta đang đói. Hơn hai triệu đồng bào ta đã chết đói. Chúng ta
phải làm thế nào cho họ sống”. Từ đó, cùng với chống giặc ngoại xâm và giặc
dốt, Người xác định chống giặc đói là một trong ba nhiệm vụ trọng yếu của đất
nước. Hàng loạt phong trào như “Hũ gạo cứu đói”, “Nhường cơm sẻ áo”, “Ngày đồng
tâm”, “Tăng gia sản xuất” được phát động rộng khắp, trở thành biểu tượng sinh
động của tinh thần đoàn kết và lòng nhân ái của dân tộc Việt Nam. Trong thư gửi
đồng bào cả nước về việc cứu đói ngày 28/9/1945, Người tha thiết kêu gọi toàn
dân thực hành tiết kiệm, san sẻ khó khăn với đồng bào nghèo đói. Những lời hiệu
triệu ấy đã góp phần khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giúp đất nước
vượt qua những ngày tháng khó khăn nhất của buổi đầu giành độc lập.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân
dân góp gạo chống giặc đói.
Tư tưởng Hồ Chí Minh
về xóa đói, giảm nghèo không chỉ dừng lại ở việc cứu đói trước mắt mà hướng tới
mục tiêu căn cơ, lâu dài là nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân. Theo Người, xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là làm cho dân giàu, nước
mạnh; mọi người đều có việc làm, có cơm ăn, áo mặc và được học hành. Người từng
khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là làm cho người nghèo thì đủ
ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm”. Quan điểm đó
cho thấy tư duy phát triển rất tiến bộ và nhân văn của Hồ Chí Minh. Người không
chủ trương bình quân, cào bằng mà tạo điều kiện để mọi người phát huy khả năng,
lao động sáng tạo, làm giàu chính đáng và cùng nhau tiến bộ.
Một trong những giá
trị nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giảm nghèo là đề cao vai trò chủ động
của người dân. Người luôn cho rằng sự hỗ trợ của Nhà nước và xã hội là cần
thiết, nhưng yếu tố quyết định vẫn là ý chí vươn lên của mỗi cá nhân, mỗi gia
đình và cộng đồng dân cư. Người căn dặn: “Không nên ỷ lại mà phải tự lực
cánh sinh”. Đây là tư tưởng có ý nghĩa đặc biệt sâu sắc đối với công cuộc
giảm nghèo bền vững hiện nay. Thực tiễn cho thấy, mọi chính sách hỗ trợ chỉ
thực sự phát huy hiệu quả khi người dân có quyết tâm thay đổi cuộc sống bằng
chính sức lao động, trí tuệ và nghị lực của mình. Tư tưởng ấy ngày nay được thể
hiện rõ trong định hướng giảm nghèo của Đảng và Nhà nước theo hướng tạo sinh
kế, hỗ trợ sản xuất, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, nâng cao năng lực và
trao cơ hội phát triển cho người dân thay vì chỉ hỗ trợ mang tính cứu trợ đơn
thuần. Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững trong
giai đoạn mới. Bên cạnh việc đề cao tinh thần tự lực của nhân dân, Chủ tịch Hồ
Chí Minh cũng luôn nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và Nhà nước trong việc chăm
lo đời sống nhân dân. Người từng căn dặn: “Nếu dân đói là Đảng và Chính phủ
có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính
phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Lời dạy ấy đến nay vẫn
mang giá trị thời sự sâu sắc, trở thành thước đo hiệu quả lãnh đạo của Đảng và
hiệu lực quản lý của Nhà nước. Mọi chủ trương, chính sách phát triển đều phải
hướng tới nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm người dân được thụ hưởng thành
quả của quá trình phát triển.
Thời gian qua, qua
các kỳ Đại Hội, Đảng ta luôn xác định vấn đề nâng cao đời sống nhân dân, bảo
đảm an sinh xã hội và giảm nghèo bền vững luôn được đặt ở vị trí trung tâm. Đại
hội XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu thực hiện hiệu quả các chính sách an sinh xã
hội, giảm nghèo đa chiều, bền vững; bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; thu
hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền; chăm lo các nhóm yếu thế và
không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển đất nước, nhiều
chương trình, chính sách lớn đã được triển khai như Chương trình mục tiêu quốc
gia giảm nghèo bền vững, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,
các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ giáo dục, y tế, đào tạo nghề, giải quyết
việc làm, phát triển sinh kế và bảo đảm an sinh xã hội. Nhờ đó, đời sống vật
chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm
mạnh qua từng giai đoạn. Từ một quốc gia có tỷ lệ nghèo đói rất cao những năm
đầu đổi mới, hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong những điểm sáng về giảm
nghèo trên thế giới, được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Đặc
biệt, Việt Nam đã chuyển từ cách tiếp cận giảm nghèo đơn chiều dựa trên thu
nhập sang giảm nghèo đa chiều, coi trọng cả khả năng tiếp cận giáo dục, y tế,
nhà ở, nước sạch, thông tin và các dịch vụ xã hội cơ bản. Đây chính là sự vận
dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo toàn diện đời sống nhân dân trong
điều kiện phát triển mới. Diện mạo nông thôn có những đổi thay mạnh mẽ. Hệ
thống kết cấu hạ tầng ngày càng đồng bộ; giao thông, điện, nước sạch, trường
học, cơ sở y tế được đầu tư nâng cấp; đời sống văn hóa, tinh thần của người dân
không ngừng được nâng cao. Nhiều vùng nông thôn trước đây còn nhiều khó khăn
nay đã trở thành những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ứng dụng khoa học công
nghệ, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống của người
dân.

Đặc biệt, trong bối
cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia
đang diễn ra mạnh mẽ, công tác giảm nghèo được đặt trong một không gian phát
triển mới. Nếu như trước đây Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong trào Bình dân
học vụ nhằm xóa nạn mù chữ thì ngày nay, tinh thần ấy đang được tiếp nối thông
qua việc phổ cập kỹ năng số, nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ, phát triển
kinh tế số và xây dựng xã hội số. Việc đưa dịch vụ công lên môi trường số, hỗ
trợ người dân tiếp cận thương mại điện tử, thanh toán số và các nền tảng công
nghệ đang mở ra những cơ hội mới để người dân nâng cao thu nhập, tiếp cận tri
thức và tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển. Những thành tựu đạt được
trong công cuộc giảm nghèo thời gian qua không chỉ phản ánh hiệu quả của các
chính sách phát triển mà còn là minh chứng sinh động cho sức sống bền vững của
tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Từ tư tưởng vì dân của Người, Đảng và Nhà
nước đã từng bước xây dựng hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện, hướng tới
mục tiêu phát triển bao trùm, bền vững và nhân văn.
Khát
vọng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng gửi gắm: “Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành” đã và đang trở thành hiện thực trong đời sống xã hội. Đó không chỉ là mục
tiêu phát triển mà còn là động lực để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục
phát huy ý chí tự lực, tự cường, khơi dậy khát vọng vươn lên, xây dựng thành
công nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh trong kỷ nguyên phát triển mới.