Vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình trong xây dựng chính sách gia đình hiện nay
Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời đi tìm hạnh phúc cho nhân dân, ấm no cho
mỗi gia đình, mỗi con người. Quan điểm của Người về gia đình có ý nghĩa quan
trọng đối với việc gìn giữ truyền thống văn hóa của dân tộc. Trong công cuộc
đổi mới đất nước hiện nay, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của Người
về gia đình trong xây dựng chính sách gia đình ngày càng có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc.
Chiến sĩ Hải quân lưu luyến chia tay gia đình để lên
đường làm nhiệm vụ_Ảnh: TTXVN
Quan
điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình
C. Mác
và Ph. Ăngghen coi gia đình là một trong ba mối quan hệ của con người được hình
thành trong lịch sử nhân loại và quan hệ gia đình tham gia vào quá trình phát
triển của lịch sử, “hằng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người
bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nẩy nở - đó là quan hệ giữa chồng và
vợ, cha mẹ và con cái”(1). Ph. Ăngghen trong tác phẩm “Nguồn gốc của
gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” đã phân tích rõ vai trò gia đình
là tế bào của xã hội; mối quan hệ biện chứng giữa gia đình và xã hội.
Kế
thừa, phát huy các giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa Á Đông về gia đình,
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về gia đình đã giúp Nguyễn Ái Quốc - Hồ
Chí Minh hình thành những lý luận nền tảng về gia đình. Người quan niệm “gia
đình là hạt nhân của xã hội”(2) và “Hạt nhân của xã hội là gia
đình”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đầu tiên đưa ra khái niệm về
gia đình Việt Nam theo quan điểm cách mạng, mang cả nghĩa cũ và mới, rộng và
hẹp, to và nhỏ: “Gia” là nhà. “Đình” là sân. Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ
giới hạn hẹp hòi trong một cái nhà, cái sân… Theo nghĩa mới thì
gia đình rộng rãi hơn, tốt đẹp hơn”(4). Cách nhìn của Người về gia
đình rộng rãi hơn, to lớn hơn, đối với những người cùng lao động trong nhà máy,
trong một cơ quan, một hợp tác xã thì đều phải đoàn kết, thương yêu nhau như
anh em trong một gia đình và nhìn rộng ra nữa thì đồng bào cả nước đều là anh
em trong một gia đình.
Mỗi
chúng ta đều có hai gia đình, gia đình riêng, nhỏ và đại gia đình là Tổ quốc.
Người làm cách mạng, đi theo cách mạng phải luôn sẵn sàng hy sinh gia đình nhỏ
- gia đình riêng của mình cho gia đình lớn - Tổ quốc. Người phân tích lý do lựa
chọn như vậy, bởi: “Gia đình to (là cả nước) và gia đình nhỏ: cái nào nặng, cái
nào nhẹ? Người cách mạng chọn gia đình to” vì người cách mạng biết nếu gia đình
to bị áp bức, bóc lột thì gia đình nhỏ sẽ suy sụp, không phát triển được. Vì
vậy, không thể bo bo giữ gia đình nhỏ mà không nghĩ đến gia đình to. Đấy là
cách hiểu xa thấy rộng. Phải hy sinh cái nhỏ cho cái lớn. Phải hy sinh cái
riêng cho cái chung. Chữ tình, chữ hiếu, cũng phải hiểu một cách rộng và hiểu
như thế mới là đúng. Giữa lợi ích riêng và lợi ích chung phải chọn lấy một. Mà
phải chọn cái ích chung... Nếu phải hy sinh gia đình nhỏ cho gia đình lớn cũng
phải làm. Phải dứt khoát, tuyệt đối không được chọn gia đình nhỏ. Có một số cán
bộ không yên tâm công tác là vì không hiểu cái đó. Phải hy sinh cái riêng, cái
nhỏ để phục vụ cái chung, cái to”(5). Vì mục tiêu cuối cùng của cách
mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc và xây dựng một xã hội mới - xã hội chủ
nghĩa, mọi người dân đều có cuộc sống no ấm, tự do, hạnh phúc. Chủ tịch Hồ Chí
Minh cho rằng: “Đến chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản, gia đình chung đã
có hạnh phúc thì gia đình riêng cũng có hạnh phúc”(6). Còn trường
hợp giành được “tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc
lập cũng không làm gì”. Người nhấn mạnh: “Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do,
của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(7). Đối với cá nhân mình,
Người tự nhận rằng: “Bác tuy không có gia đình riêng, nhưng Bác có một đại gia
đình rất lớn, đó là giai cấp công nhân toàn thế giới, là nhân dân Việt Nam”(8).
Ngày
10-10-1959, nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và
Gia đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và
nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia
đình tốt thì xã hội mới tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Chính vì muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý hạt nhân cho tốt”(9). Luật Hôn
nhân và Gia đình được Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa thứ nhất, Kỳ
họp thứ 11, thông qua ngày 29-12-1959, được Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng là
một cuộc cách mạng và thực hiện tốt Luật Hôn nhân và Gia đình có ý
nghĩa quan trọng “gia đình sẽ có hạnh phúc, và sẽ góp phần vào việc xây dựng
chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà, xây dựng một nước Việt Nam hòa
bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”(10).
Cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ngày càng bước vào giai đoạn khó
khăn, ác liệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các gia đình phải thực hiện đoàn
kết để đấu tranh chống Mỹ, cứu nước, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền
Bắc, thống nhất nước nhà: “Mọi gia đình đều đoàn kết cộng lại thành xã hội đại
đoàn kết. Đại đoàn kết là sức mạnh vô địch của nhân dân ta trong công cuộc xây
dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và trong sự nghiệp đấu tranh thực hiện
hòa bình thống nhất nước nhà”(11). Cũng với ý nghĩa đó, trong bài
nói tại Hội nghị chính trị đặc biệt, ngày 27-3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn
mạnh hơn nữa về giá trị gia đình trong xây dựng xã hội miền Bắc, là xã hội của
những người lao động làm chủ tập thể, là đại gia đình của mọi tầng lớp nhân
dân, cho nên các dân tộc anh em phải đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, đồng cam cộng
khổ, phấn đấu cho lợi ích chung của Tổ quốc.
Như
vậy, từ những giá trị gia đình truyền thống, Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và
phát huy thành giá trị gia đình cách mạng với ý nghĩa rộng lớn hơn. Gia đình
thông thường với nghĩa là “nhà”, lên nhiều nhà, tập thể, xã hội, đất nước, Tổ
quốc. Hạt nhân của xã hội là gia đình, muốn xây dựng xã hội tốt, phải xây dựng
gia đình tốt. Gia đình nhỏ là cái riêng, khi cần lựa chọn, phải lựa chọn gia
đình lớn, hy sinh cái riêng vì cái chung. Theo Người, dù bất cứ ở chế độ xã hội
nào thì “gia đình chung hạnh phúc”, “gia đình riêng mới hạnh phúc”.
Vận
dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng chính sách về gia đình
hiện nay
Nhận
thức sâu sắc những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình, từ năm 1986
đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã cụ thể hóa tư tưởng của Người vào trong đường
lối, chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm xây dựng giá trị gia đình mới, gia
đình xã hội chủ nghĩa, mang lại ấm no, hạnh phúc cho con người.
Quan
điểm gia đình là tế bào của xã hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh
được Đảng phát triển sáng tạo trong bối cảnh mới. Tháng 12-1986, Đại hội VI của
Đảng xác định: “Gia đình là tế bào của xã hội, có vai trò rất quan trọng trong
sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, con người mới”(12).
Đại hội VII (năm 1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, khái niệm gia đình được mở rộng hơn: “Gia đình là tế
bào của xã hội, là cái nôi thân yêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan
trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Các chính sách của Nhà nước
phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hòa thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa
vụ gia đình đối với mọi lớp người”(13). Đại hội VIII (năm 1996) chủ
trương xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm
của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình
thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa
truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Phát
triển quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều gia đình cộng lại mới
thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt,
Đại hội IX của Đảng (năm 2001) nêu rõ trách nhiệm của gia đình trong việc giáo
dục. Theo đó, các thành viên trong gia đình nêu cao trách nhiệm của gia đình
trong việc xây dựng, bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hóa, làm
cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội, ngày 4-5-2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 72/2001/QĐ-TTg, lấy ngày 28-6 hằng năm là Ngày Gia đình Việt
Nam với mục tiêu nhằm đề cao trách nhiệm của lãnh đạo các ban, ngành,
các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các gia đình thường xuyên
quan tâm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc. Ngày
21-2-2005, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 49-CT/TW về “Xây dựng
gia đình trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, trong đó nêu
rõ: Gia đình là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành,
nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền
thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ thị số 49-CT/TW đề ra 6 nhiệm vụ, 6 giải
pháp trong thực hiện chính sách gia đình, nhấn mạnh nhiệm vụ nhận thức rõ gia
đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Coi
đầu tư cho gia đình là đầu tư cho phát triển bền vững. Gia đình có trách nhiệm
với các thành viên và với xã hội. Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ sự
ổn định và phát triển của gia đình. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác gia
đình, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên; chủ động rà soát, đánh giá tình hình
gia đình tại địa phương, xây dựng và triển khai các kế hoạch, đề án cụ thể giải
quyết những khó khăn, thách thức về gia đình và công tác gia đình. Việc ban
hành chỉ thị về gia đình góp phần tạo bước chuyển biến mới về nhận thức và hành
động trong mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy các địa phương trong việc lãnh
đạo công tác gia đình và xây dựng gia đình trong thời kỳ đổi mới.
Vận
dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về gia đình hạnh phúc sẽ góp
phần vào việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đại hội X (năm 2006) của Đảng chủ
trương: “Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ
ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình
thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa
truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc”(14). Đại hội XI (năm 2011) thông qua Cương lĩnh xây dựng
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm
2011), nêu rõ: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào
lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và
hình thành nhân cách”(15). Quan điểm về gia đình của Đại hội XI được
phát triển khi Đảng nhận rõ muốn có một xã hội phát triển thì gia đình
phải phát triển, bởi gia đình không chỉ là tế bào tự nhiên của xã hội, mà
còn là một đơn vị kinh tế của xã hội; không có gia đình tạo ra con
người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không thể tồn tại và phát triển được;
gia đình không chỉ giữ vai trò nền tảng, tế bào của xã hội mà còn là môi trường
quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con người. Thể
chế hóa chủ trương của Đảng, những năm qua, nhiều bộ luật được ban hành nhằm
xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam, như Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000; Pháp lệnh Dân số 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2008); Luật Bình đẳng giới
năm 2006; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Luật Bảo vệ, chăm sóc và
Giáo dục trẻ em sửa đổi năm 2004; Luật Người cao tuổi năm 2009;…
Triển
khai Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, ngày 2-5-2012, Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt Đề án “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến
năm 2030”, với mục tiêu chung, đó là xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ,
hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội; đồng
thời nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong
việc thực hiện hiệu quả nội dung về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới,
phòng, chống bạo lực gia đình. Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục nhấn
mạnh mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Trong bối
cảnh mới, Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) chỉ rõ, cần “tập trung nghiên cứu,
xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn
mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong
thời kỳ mới”(16). Chủ trương của đại hội là định hướng căn bản cho
việc thể chế hóa xây dựng gia đình trở thành hạt nhân lưu giữ, phát triển các
giá trị văn hóa, là môi trường hình thành nhân cách con người Việt Nam. Triển
khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 24-6-2021, Ban Bí thư Trung ương
Đảng ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác xây dựng gia đình trong tình hình mới”, khẳng định: Gia đình là tế bào
của xã hội, nơi duy trì nòi giống, môi trường lưu giữ, giáo dục, trao truyền
các giá trị văn hóa dân tộc cho các thành viên trong gia đình. Xây dựng gia
đình hạnh phúc chính là tạo nền tảng để xây dựng xã hội hạnh phúc, là vấn đề hết
sức hệ trọng của dân tộc ta. Công tác xây dựng gia đình vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Cũng với mục tiêu đó, ngày
30-12-2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2238/QĐ-TTg, về “Phê
duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030” nêu rõ, nhiệm vụ
xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy bền vững; là trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã
hội. Mục tiêu chung của Chiến lược gia đình là “xây dựng gia đình Việt Nam no
ấm, tiến bộ, hạnh phúc, là hạt nhân, tế bào lành mạnh của xã hội, tổ ấm của mỗi
người; là nơi nuôi dưỡng, bồi đắp nhân cách, lối sống tôn trọng đạo lý truyền
thống tốt đẹp của dân tộc; phát huy, nhân rộng các giá trị tốt đẹp góp phần
phát triển bền vững đất nước”(17).
Mục tiêu chung của Chiến lược gia đình là xây dựng gia
đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc.
Sau gần
40 năm đổi mới, Đảng, Nhà nước ta không ngừng hoàn thiện chính sách, pháp luật
về gia đình, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần
quan trọng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho gia đình Việt Nam. Sau
hơn 20 năm thực hiện Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn năm 2030, có 44/63 tỉnh đạt chỉ tiêu 1, đạt 70% (về hộ gia đình đạt tiêu
chuẩn gia đình văn hóa); 38/63 tỉnh đạt chỉ tiêu 2, đạt 60% (về hộ gia đình
dành thời gian chăm sóc, dạy bảo con cháu, tạo điều kiện cho con, cháu phát
triển toàn diện); 43/63 địa phương đạt chỉ tiêu 3, đạt 68% (về gia đình thực hiện
chăm sóc, phụng dưỡng chu đáo ông bà, chăm sóc cha, mẹ, phụ nữ có thai, nuôi
con nhỏ) và 36/63 tỉnh đạt chỉ tiêu 4, đạt 57% (về hộ gia đình có người độ tuổi
sinh đẻ được tuyên truyền và thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia
đình)(18). Tính đến hết năm 2023, cả nước có khoảng 6.370/8.167
(78%) xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 1.612 xã đạt tiêu chuẩn nông thôn
mới nâng cao và 256 xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới kiểu mới; 270 đơn vị cấp
huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo theo
chuẩn đa chiều tiếp tục giảm 1,1% so với năm 2022, đạt và vượt mục tiêu Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 24/2021/QH15 của Quốc hội về phê
duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai
đoạn 2021 - 2025 đã đề ra. Theo báo cáo của Chỉ số nghèo đa chiều (MPI) toàn
cầu được Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) và Sáng kiến nghèo đói và
Phát triển con người (OPHI) công bố ngày 15-7-2023, Việt Nam là một trong 25
quốc gia đã hạ được chỉ số MPI xuống một nửa trong vòng 15 năm.
Vận
dụng và phát triển sáng tạo những quan điểm của Hồ Chí Minh về gia đình, sau
gần 40 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính
sách về xây dựng gia đình Việt Nam. Công tác gia đình và xây dựng gia đình Việt
Nam đạt được những thành tựu quan trọng, tạo ra sự chuyển biến căn bản về nhận
thức, hành động đối với các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc từ Trung ương
đến địa phương. Nhiều gia đình đã tiếp cận được những dịch vụ xã hội cơ bản, chất
lượng cuộc sống ngày càng nâng cao. Kinh tế hộ gia đình đóng vai trò quan trọng
trong thu nhập quốc dân. Nhiều hộ gia đình đã đóng vai trò quan trọng trong thu
nhập quốc dân, nhiều hộ nỗ lực vươn lên làm giàu chính đáng. Những thành tựu
của công tác xây dựng gia đình đã góp phần tích cực vào quá trình phát triển
kinh tế - xã hội, xây dựng phát triển văn hóa và con người Việt Nam./.
(1) C.
Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,
t. 3, tr. 41
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội, 2011, t. 13, tr. 538
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 300
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 312
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 99
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 100
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 175
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 300
(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 300
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 391
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 524
(12) Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2006, t. 47, tr. 776
(13) Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, t. 51, tr. 145
(14) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 103 - 104
(15) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính
trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 77
(16) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính
trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 143
(17) Xem: Quyết định số 2238/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chiến
lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030, https://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=204882&tagid=6&type=1
(18) Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch: Báo cáo số 293- BVHTTDL về Tổng
kết Chiến lược phát triển gia đình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030