image banner
  
Chào mừng bạn đến với Trang thông tin điện tử Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc
Màu chữ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là một trong những tư tưởng nổi bật, xuyên suốt và đã trở thành chiến lược cách mạng của Đảng ta, gắn liền với những thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc đ­ược hình thành và phát triển gắn chặt với phẩm chất đạo đức nhân văn trong sáng của Hồ Chí Minh. Mục đích và lý tưởng của Hồ Chí Minh là độc lập cho đất n­ước và ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người là mẫu mực về đạo đức cách mạng, có tác phong bình dị, chân tình nên có sức cảm hóa lớn đối với mọi người. Tư tưởng về niềm tin mãnh liệt vào con người, vào nhân dân mang tính vị tha và lòng bác ái của Người đã khơi dậy đ­ược ý thức dân tộc, tinh thẩn yêu n­ước và biến chúng thành sức mạnh đoàn kết toàn dân đánh giặc, toàn dân xây dựng đất n­ước.

Năm 1923 tham luận tại Đại hội Quốc tế nông dân Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân ở các nước thuộc địa và khẳng định sự cần thiết phải xây dựng khối liên minh công-nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. Lấy liên minh công nông làm nền tảng cốt lõi để hình thành một lực lượng cách mạng của các dân tộc thuộc địa. Phải xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các nước thuộc địa, giữa các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân vì mục tiêu giành độc lập dân tộc. Khi cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi nó  sẽ giúp cho cách mạng vô sản ở chính quốc mau đi đến thắng lợi.

Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Công nhân, nông dân là “gốc” cách mạng, là “chủ” cách mạng, là nòng cốt của khối đại đoàn kết dân tộc, học trò, nhà buôn và các tầng lớp khác là bầu bạn của cách mạng, cần phải tập hợp đoàn kết. Cách mạng là việc khó, nhưng biết cách làm biết đồng tâm hiệp lực thì chắc chắn sẽ thành công. Người làm cách mạng, trước hết phải là người hiểu rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng, phải “đi vào quần chúng thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ”, làm cho nhân dân ai cũng biết “đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”. Người chỉ rõ: “ Muốn biết tự do trầy hay chóng; Thì xem tổ chức khắp hay không; Nước nhà giành lại nhờ gan sắt; Sự nghiệp làm nên bởi chữ Đồng”.

Việc nước là việc chung của tất cả mọi người. Mỗi một con người bất kỳ già trẻ, gái trai, giàu nghèo, nòi giống, tôn giáo đều phải gánh một phần. Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Việc gì khó mấy nếu biết học hỏi ý kiến nhân dân thì cũng tìm ra sáng kiến.

  Với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố thắng lợi của cách mạng. Có đoàn kết mới có thắng lợi, càng gặp khó khăn gian khổ bao nhiêu, thì phải thắt chặt đoàn kết bấy nhiêu; đoàn kết càng rộng rãi, vững chắc bao nhiêu thì thành quả cách mạng càng thu lại to lớn bấy nhiêu. Ý nghĩa của chiến lược đại đoàn kết toàn dân trong cách mạng được Hồ Chí Minh tổng kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” .

Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta, Người chỉ rõ: “Sự đồng tâm của đồng bào ta đúc thành một bức tường đồng xung quanh Tổ quốc dù địch hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, đụng đầu nhằm vào bức tường đó chúng cũng phải thất bại”.

“... Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được hết cả. Ví dụ: Lật đổ chế độ thực dân phong kiến có khó không? Khó. Thế nhưng ta đoàn kết nên lật đổ được. Lúc bắt đầu kháng chiến ta ở trong hoàn cảnh rất khó khăn. Pháp có hải quân, không quân, xe tăng, có những tên tướng có kinh nghiệm mấy chục năm, có khí giới của Mỹ giúp. Lúc đó cơ đồ ta chỉ có tay không mà phải đánh một kẻ địch mạnh hơn. Nhưng chúng ta đã thắng. Vì sao? Vì đoàn kết”.

   Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Người nói: “Một ngón tay thì yếu nhưng năm ngón tay nắm lại thành quả đấm thì rất mạnh”. Dân tộc ta dù nhỏ nhưng nếu đoàn kết chặt chẽ và quyết chiến đấu theo đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, lại được sự ủng hộ và giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân cách mạng thế giới thì nhất định đánh thắng giặc Mỹ.

 Hồ Chí Minh nói: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại đoàn kết là điểm xuất phát và là sợi chỉ đỏ xuyên suất đ­ường lối, chủ tr­ương của Đảng. “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam bao gồm tám chữ 'đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc”. Vấn đề quan trọng hàng đầu của Đảng là xây dựng đ­ược đ­ường lối chiến lược khoa học phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi của đại đưa số quần chúng. Có như vậy Đảng mới có thể thu hút và phát huy triệt để sức mạnh của quần chúng vào sự nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh nhắc nhở giai cấp vô sản và nhân dân các nước thuộc địa hãy nhớ lời kêu gọi của Mác “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại” và Người kêu gọi “Lao động tất cả các nước đoàn kết lại”.

Hồ Chí Minh th­ường nhấn mạnh: Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi. Điều đó có nghĩa là đoàn kết là vấn đề sống còn của cách mạng. Trong những nhiệm vụ cụ thể khác nhau của cách mạng cần có ph­ương pháp tổ chức, bố trí lực lượng phù hợp với những yêu cầu cụ thể nhưng đoàn kết lúc nào cũng là một chiến lược lâu dài, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Người nói sự nghiệp cách mạng lớn lắm, những người cách mạng phải đoàn kết với nhau để thực hiện sự nghiệp đó. Người nói khi xâm lược n­ước ta, thực dân Pháp dùng thủ đoạn “chia để trị '. Vì vậy, chỉ có đoàn kết mới đánh bại đ­ược âm mưu chia rẽ của kẻ thù, chỉ có đoàn kết phấn đấu n­ước ta mới giành đ­ược độc lập. Đó là tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng và củng cố, mở rộng và phát triển khối đại đoàn kết dân tộc trong suốt cuộc đời hoạt động của Người.

Hồ Chí Minh coi đoàn kết, đại đoàn kết không chỉ đơn giản là một ph­ương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng mà còn là mục tiêu, động lực và nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Đoàn kết không chỉ đơn thuần là một phương pháp tập hợp, tổ chức lực lượng cách mạng mà cao hơn, đó là mục tiêu, là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng. Đoàn kết không phải là một chủ trương, một ý đồ của cá nhân hay một tổ chức nào mà nó xuất phát từ nhu cầu khách quan, đòi hỏi của cách mạng, của sự nghiệp giải phóng loài người trên toàn thế giới. Hồ Chí Minh khẳng định: Đại đoàn kết là một chính sách dân tộc chứ không phải là một thủ đoạn chính trị. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta.

“Đại đoàn kết: Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”.

 “Đoàn kết không phải ở bề mặt, bề miệng như nay xi-nê, mai bát phở mà đoàn kết để làm gì? Làm thế nào để đoàn kết? Muốn đoàn kết chặt chẽ là phải thật thà tự phê bình, thành khẩn phê bình đồng chí và những người xung quanh, phê bình, tự phê bình để cùng nhau tiến bộ, để đi đến càng đoàn kết”.

Sự thống nhất hài hòa giữa tư tưởng, hành động và đạo đức Hồ Chí Minh đã làm cho đại đoàn kết toàn dân tộc ta không phải chỉ là tư tưởng, khẩu hiệu mà thực sự trở thành một truyền thống cực kỳ quý báu, một bài học lớn của Đảng ta và dân ta, một động lực, sức mạnh to lớn của toàn dân tộc để giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Với Hồ Chí Minh, đối tượng đoàn kết là vô cùng rộng rãi, nhưng không phải là tất cả, đoàn kết là cần thiết nhưng không phải là đoàn kết vô tổ chức, vô nguyên tắc để đi đến phản bội lại những mục tiêu ban đầu của mình. “... Sự đoàn kết nhất trí trong Đảng càng thêm vững chắc, bảo đảm cho Đảng ta càng trong sạch, càng mạnh mẽ, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng vĩ đại của chúng ta càng giành được nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa...”

Không chỉ là tấm gư­ơng về đoàn kết, kêu gọi và vận động mọi người đoàn kết, Hồ Chí Minh còn luôn gần gũi và quan tâm đến đời sống của nhân dân, luôn động viên, thăm hỏi từng đối tượng, từ cụ già đến các trẻ thơ. Người đã cảm hóa, cuốn hút, tập hợp và lôi cuốn nhân dân bằng cả tấm lòng tận trung với n­ước, tận hiếu với dân, bằng cuộc đời người cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư bằng phẩm chất phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất và tình hữu ái vô sản.

 “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần  phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng và sự đoàn kết nhất trí giữa các đảng cộng sản, giữa các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho cách mạng thắng lợi.

Trong mỗi quốc gia, mỗi dân tộc bao giờ cũng tồn tại những tầng lớp, giai cấp khác nhau. Mỗi giai cấp, tầng lớp lại có lợi ích khác nhau nhưng tất cả các lợi ích khác nhau đó đều có một điểm chung là lợi ích đần tộc. Quyền lợi của các tầng lớp, giai cấp có thực hiện đ­ược hay không còn phụ thuộc vào dân tộc đó có đ­ược độc lập tự do, có đoàn kết hay không và việc nhận thức, giải quyết đúng đắn các quan hệ lợi ích đó như thế nào.

Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh là tìm tòi, trân trọng và phát huy những yếu tố tư­ơng đồng, thu hẹp đến mức thấp nhất những yếu tố khác biệt, mâu thuẫn. Người bao giờ cũng tìm ra những yếu tố cao nhất của đoàn kết dân,  quy tụ những yếu tố khác nhau về lợi ích nhỏ vì lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, là bình đẳng, dân chủ, tự do. Lợi ích tối cao này là ngọn cờ đoàn kết, là sức mạnh dân tộc và là nguyên tắc bất di, bất dịch của cách mạng Việt Nam. Đó cũng là nguyên tắc bất biến trong tư tưởng Hồ Chí Minh để Người tìm ra những phư­ơng pháp thực hiện nguyên tắc đó.

Những quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động đ­ược Đảng và Nhà n­ước ta  thực hiện theo nguyện vọng của Hồ Chí Minh là độc lập, tự do, hạnh phúc, ai cũng có cơm, ăn, áo mặc, ai cũng đ­ược học hành.

Vượt qua những hạn chế của các nhà yêu nước đương thời, Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở giai cấp công nhân sứ mệnh lịch sử là xoá bỏ ché độ bóc lột, người bóc lột người, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy giai cấp công nhân là giai cấp đứng ở vị trí trung tâm để đoàn kết và tập hợp các lực lượng khác theo mình làm cách mạng. Theo Người, trước hết cần phải có Đảng của giai cấp công nhân “Cách mạng trước hết phải có Đảng để trong vận động tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, cho nên Đảng có vững cách mạng mới thành công cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”. Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc tình hình kinh tế chính trị, xã hội ở Việt Nam, hoàn cảnh và điều kiện ra đời của một nước thuộc địa nửa phong kiến. Do đó cần phải giáo dục, rèn luyện cho cán bộ Đảng viên giữ vững lập trường bản chất của giai cấp công nhân trong mọi tình huống, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên phê bình và tự phê bình để không ngừng tiến bộ, “giữ gìn sự đoàn kết của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đảng phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng trong mỗi thời kỳ lịch sử, đồng thời đảm bảo cho sự đoàn kết, nhất trí của Đảng. Đường lối chính trị còn là cơ sở tập hợp quần chúng và thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng và quần chúng.

Trong khi coi trọng vai trò quyết định của Đảng, của giai cấp công nhân và dân tộc, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến sự liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Theo Người đây là lực lượng đông đảo nhất của xã hội, đồng thời cũng là lực lượng bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, do đó họ rất có tinh thần cách mạng chống đế quốc phong kiến và xây dựng xã hội mới. Cách mạng muốn thành công, Đảng muốn hoàn thành sứ mệnh của mình thì phải đoàn kết lực lượng, đoàn kết dân tộc dựa trên nền tảng liên minh công nông và trí thức. Lợi ích của giai cấp và của dân tộc luôn gắn liền với nhau. Đảng ta không có lợi ích nào ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Giai cấp công nhân muốn giải phóng mình, đồng thời phải giải phóng tất cả các giai cấp bị áp bức bóc lột khác. Đây chính là cầu nối giữa giai cấp công nhân với các giai cấp khác, đồng thời cũng là chất kết dính bảo đảm cho khối đại đoàn kết toàn dân mà Đảng Cộng sản là hạt nhân. Những quan điểm đó làm cho tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh vượt xa so với tư tưởng đại đoàn kết của các bậc tiền bối và các nhà yêu nước đương thời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Việt Nam.

Từ nhận thức đúng đắn trên, Hồ Chí Minh quan tâm đến việc xây dựng và hoàn thiện các tổ chức cho việc thực hiện tư tưởng đại đoàn kết. Năm 1925 Người thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng Đồng chí hội. Tổ chức tiền thân này của Đảng đã đóng vai trò to lớn trong việc thúc đẩy phong trào yêu nước Việt Nam, tạo cơ sở cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, hạt nhân của khối đại đoàn kết toàn dân lãnh đạo cách mạng Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản.

Vấn đề chính quyền Nhà nước là vấn đề căn bản của mọi cuộc cách mạng. Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh rất coi trọng đến việc xây dựng một nhà nước đảm bảo giữ vững, củng cố và phát huy được hiệu lực của nó trong tổ chức và quản lý đời sống xã hội. Nhà nước đó theo Người phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hồ Chí Minh đã viết: “Chúng ta phải hiểu rằng các cơ quan của Chính phủ, từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Với một Nhà nước như vậy mới đoàn kết, tập hợp, tổ chức được quần chúng nhân dân và luôn được nhân dân ủng hộ.

Các hình thức tổ chức khác như: mặt trận dân tộc thống nhất, đoàn thanh niên, hội phụ nữ v.v... có vai trò to lớn trong việc tổ chức tập hợp lực lượng, đoàn kết nhân dân. Trong đó Mặt trận dân tộc thống nhất là hình thức tổ chức đoàn kết rộng lớn dựa trên cơ sở liên minh công nông và trí thức để tập hợp các giai cấp, tầng lớp khác là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cách mạng.

            Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, Hồ Chí Minh đã khẳng định đối tượng của cách mạng Việt Nam cần phải đánh đổ là đến quốc thực dân Pháp và phong kiến để thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, trong đó nhiệm vụ chống đế quốc cần phải đặt lên cao hơn nhiệm vụ chống phong kiến. Do xác định đúng kẻ thù chủ yếu của dân tộc là đế quốc Pháp cần phải tập trung lực lượng để đánh đổ đã quy định việc sắp xếp lực lượng cách mạng phù hợp. Theo Người “công nông là gốc của cách mệnh”, cùng với tiểu tư sản, trí thức, tư sản dân tộc tạo thành lực lượng cách mạng. Chỉ có bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc. Đối với những người thuộc tầng lớp giàu có trong xã hội, Người chủ trương “phú nông, trung nông, tiểu địa chủ mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít nữa cũng làm cho họ trung lập”.

Sự thống trị của thực dân Pháp đã làm  cho xã hội Việt Nam bị phân hóa. Một bộ phận trong giai cấp địa chủ (chủ yếu là đại địa chủ) và tư sản mại bản ôm chân đế quốc, là tay sai của đế quốc, còn lại hầu hết là các giai cấp, tầng lớp khác đều bị đế quốc và tay sai đàn áp, bóc lột, chèn ép. Hồ Chí Minh đã  tìm thấy mặt tốt, mặt tích cực và khai thác tối đa những mặt đó trong giai cấp bóc lột, khơi dậy trong lòng họ tinh thần dân tộc để tranh thủ, tập hợp bộ phận này trong mặt trận chống đế quốc và tay sai.

Phương pháp đoàn kết Hồ Chí Minh là phương pháp sử dụng lực lượng mềm dẻo về sách lược và kiên quyết về chiến lược nhằm tập trung lực lượng đến mức cao nhất chống kẻ thù của dân tộc và giai cấp. Người luôn chủ dộng khai thác mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù, lôi kéo, tranh thủ những lực lượng nào còn có thể tranh thủ d­ược, hòa hoãn với những lực lượng nào còn có thể hòa hoãn d­ược, thu hẹp và cô lập lực lượng thù địch trực tiếp nhất, nguy hiểm nhất đối với cách mạng.

Nhưng lực lượng càng đông, đoàn kết càng đòi hỏi phải có nguyên tắc. Hồ Chí Minh chỉ rõ phải phân biệt rõ ai là bạn, ai là thù. Ai là người làm lợi cho dân, cho nước đó là bạn, ai là người hại cho dân, cho nước đó là thù. Muốn cách mạng thắng lợi phải thêm bạn bớt kẻ thù... phải đoàn kết các dân tộc với nhau cùng nhau sống hòa thuận, ấm no.

Hồ Chí Minh quan tâm đến đoàn kết trước hết là ở lực lượng đoàn kết. Lực lượng đông mà đoàn kết thì sẽ có sức mạnh vô địch. Người căn dặn dân ta “xin nhớ chữ đồng: đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh” đó là sức mạnh của chúng ta, là then chốt của thành công. Muốn có lực lượng đoàn kết rộng rãi thì theo Hồ Chí Minh phải có một mục tiêu chung nhất là “phụng sự Tổ quốc”. Lực lượng đoàn kết bao gồm tất cả trong Đảng cán bộ Nhà nước, toàn thể nhân dân, toàn thể các tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, quốc tế.

“Đại đoàn kết: Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác”.

Muốn thực hiện đoàn kết rộng rãi phải có tổ chức, phải thành lập mặt trận đoàn kết dân tộc thống nhất. Tháng 5-1941, Người thành lập Mặt trận Việt Minh. Tháng 3-1951 Người chủ trì thành lập Mặt trận Liên Việt đoàn kết tất cả các tầng lớp, các giai cấp, các tôn giáo, các dân tộc, già trẻ, nam nữ.... Để thực hiện đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc, Người xây dựng Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam. Người đặc biệt quan tâm đến việc thành lập và chương trình hoạt động của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Người thường nhấn mạnh đoàn kết trong mặt trận là để vì mục đích: trên vì nước, dưới vì nhà; một là ích nước, hai là lợi dân.

Chính sách mặt trận đoàn kết dân tộc thống nhất là một nét độc đáo nổi bật ở Hồ Chí Minh. Nó đã kế thừa tinh thần đoàn kết của cha ông nhưng đã vượt qua tất cả để trở thành chiến lược đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế.

Trong đoàn kết toàn dân, Hồ Chí Minh luôn luôn xác định đoàn kết toàn dân phải lấy liên minh công nông, trí thức làm nền tảng do Đảng lãnh đạo. Tất cả cán bộ Đảng viên, dù ở cương vị khác nhau làm công tác khác nhau cũng đều phải đoàn kết nhất trí. Người căn dặn Đảng phải coi trọng giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ mình từ trung ương tới các chi bộ như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Về phương pháp thực hiện đại đoàn kết: Hồ Chí Minh rất coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng. Người xác định nội dung tuyên truyền, giáo dục phù hợp với tâm lý, nguyện vọng chung nhất của dân tộc và của các giai cấp, tầng lớp xã hội. Nội dung tuyên. truyền, giáo dục, vận động phải phản ánh đúng những nguyện vọng sâu xưa và những quyền lợi chủ yếu nhất của quần chúng.

Để tuyên truyền, giáo dục, vận động quần chúng đoàn kết, Hồ Chí Minh đã nêu một tấm gư­ơng mẫu mực trong việc sử dụng các hình thức phong phú. Cách nói, cách viết của Người ngắn gọn, dễ hiểu, vừa trí thức, vừa bình dân; vừa sâu sắc, vừa giản dị. Những vấn đề lớn của cách mạng, của chủ nghĩa Mác - Lênin, của dân tộc và của thời đại đã đ­ược Người trình bày bằng ngôn ngữ thông th­ường rất gần gũi với người lao động, để mọi người dân Việt Nam, ai cũng hiểu đ­ược, hiểu đ­ược thì nhớ đ­ược, nhớ được thì làm đ­ược.

Để quần chúng đoàn kết, bản thân cán bộ phải là một tấm g­ương đoàn kết trong lời nói và việc làm, có sức lôi cuốn thu phục quần chúng, có đủ năng lực, phẩm chất làm hạt nhân đoàn kết quần chúng nhân dân của Hồ Chí Minh.

 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính trị là vấn đề quan trọng nhất trong phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh. Sự thống nhất và bền vững của hệ thống chính trị là yếu tố quyết định sự tồn tại và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc.

Theo Hồ Chí Minh, là thành phần, hạt nhân lãnh đạo, là linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng Cộng sản phải đ­ược xây dựng trên nguyên tắc đảng vô sản kiểu mới, đảng cầm quyền, đảng phải xây dựng trong sạch và vững mạnh. Đảng phải đại diện cao nhất cho trí tuệ của cả dân tộc, đủ trình độ lý luận và khả năng thực tiễn để nắm bắt những nhu cầu khách quan của lịch sử dân tộc; biết tiếp thu, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tri thức nhân loại, kết hợp với tổng kết, phát triển kinh nghiệm của dân tộc để đề ra những chủ tr­ương, đường lối đúng đắn. Muốn vậy, các đảng viên cộng sản phải ra sức học tập lý luận, phải th­ường xuyên bám sát thực tiễn, phân tích và tổng kết thực tiễn. Đảng phải phấn đấu đến cùng cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Đảng Cộng sản phải là đảng thống nhất trong tư tưởng, trong hành động, thống nhất từ trên xuống dưới. “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần  phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. “Giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng và sự đoàn kết nhất trí giữa các đảng cộng sản, giữa các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho cách mạng thắng lợi”.

Chỉ có xây dựng đ­ược một đảng trí tuệ, cách mạng và thống nhất trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì mới đủ sức tập hợp sức mạnh đại đoàn kết và lãnh đạo dân tộc, mới đủ khả năng là đại diện quyền lợi của dân tộc, là hạt nhân lãnh đạo, mới có thể tập hợp đ­ược khối đoàn kết dân tộc và quốc tế.

Hồ Chí Minh nước ta là nước dân chủ nên phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, củng cố Nhà n­ước thật sự của dân, do dân và vì dân. Cán bộ, công chức nhà n­ước phải luôn trung thành, tận tụy phục vụ nhân dân, là đầy tớ, công bộc của dân. Chỉ có như vậy, Nhà n­ước mới thật sự là công cụ của Đảng, là tổ chức đại diện cho quyền lực của nhân dân, mới đoàn kết đ­ược nhân dân, được nhân dân  tin tưởng và ủng hộ.

Tổ chức rộng rãi nhất, liên quan trực tiếp đến việc tập hợp khối đoàn kết dân tộc là các đoàn thể quần chúng. Chính các đoàn thể quần chúng này tập hợp nhau  thành Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận càng rộng, càng chặt chẽ, càng thống nhất bao nhiêu thì khối đại đoàn kết dân tộc càng mạnh mẽ, càng bền vũng bấy nhiêu. .

Theo Hồ Chí Minh, các tổ chức, đoàn thể quần chúng cần phải đ­ược xây dựng đa dạng, phù hợp với yêu cầu và trình độ nhận thức và từng lứa tuổi, ngành nghề. Cương lĩnh, chư­ơng trình hành động của các đoàn thể quần chúng phải hết sức rõ ràng, thiết thực. Cán bộ của các tổ chức chính trị, của đoàn thể cần phải “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm, chứ không phải chỉ nói suông, chỉ. ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”.

Ph­ương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là sự kết hợp đồng bộ, hiệu quả các giải pháp ứng xử sao cho có thể mở rộng đến mức cao nhất trận tuyến cách mạng và thu hẹp tới mức tối đa trận tuyến thù địch. Đó là ph­ương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” xử lý cứng rắn về nguyên tắc chiến lược và sự và sự mềm dẻo, linh hoạt trong các giải pháp tuỳ theo tình hình lịch sử cụ thể. Phư­ơng pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là khai thác, phát huy tối đa sự thống nhất, điểm tư­ơng đồng, hạn chế, khắc phục, tiến tới xoá bỏ dần những khác biệt .

Theo Người, sự đoàn kết, thống nhất của lực lượng cách mạng chính là điều kiện tiên quyết của việc thu hút, tập hợp các lực lượng trung gian vào trận tuyến cách mạng, cô lập các lực lượng thù địch. Đối với lực lượng trung gian, ph­ương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh là xoá bỏ mọi thành kiến, mặc cảm, khêu gợi, cổ vũ ý thức dân tộc, tinh thần yêu n­ước, chân thành hợp tác và trọng dụng “điều cần thiết nhất cho chúng ta là đoàn kết..., cần phải xoá bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp dỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân”.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Đoàn kết dân tộc phải gắn với đoàn kết quốc tế. Tình đoàn kết nhất trí giữa tất cả các nước trong phe xã hội chủ nghĩa và các đảng cộng sản anh em, là của quý vô giá của chúng ta, nó bảo đảm chắc chắn nhất cho mọi thắng lợi của cách mạng.

“Giữa các nước anh em với chúng ta, mọi việc đều ý hợp tâm đầu, vì chúng ta ở trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, cùng phấn đấu dưới ngọn cờ vẻ vang của chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng phấn đấu cho một lý tưởng cao quý là chủ nghĩa xã hội.Vì sức đoàn kết nhất trí của chúng ta ngày càng bền vững, quyết không gì lay chuyển được, cho nên chúng ta nhất định thắng lợi”.

Người kêu gọi nhân dân Việt Nam cần hiểu rõ rằng: “ Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi. Cho nên muốn giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh vĩ đại ấy, điều kiện quan trọng nhất là sự đoàn kết nhất trí giữa các lực lượng tiến bộ trên thế giới, trước hết là sự đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa và trong phong trào cộng sản quốc tế”.

Nội dung chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh rất phong phú và nhằm giải quyết một cách khoa học, hiệu quả các mối quan hệ giữa giai cấp với dân tộc, giữa quốc gia và quốc tế, giữa truyền thống và hiện đại. Chính nhờ chiến lược đại đoàn kết dân tộc mà Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân ta đấu tranh cách mạng, liên tiếp giành thắng lợi vĩ đại trong thế kỷ XX và tiếp tục được phát huy trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay.

                                                                                                                             Phạm Nhất Linh

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0
Xem thêm
ipv6 ready