Phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Tấm gương mẫu mực cho cán bộ, đảng viên và người đứng đầu trong giai đoạn hiện nay
Chủ tịch
Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời, là hiện thân mẫu mực để mỗi cán bộ, đảng
viên và toàn thể nhân dân noi theo. Phong cách Hồ Chí Minh – như một lẽ tự
nhiên – đã thấm sâu vào tư duy, hành động của biết bao thế hệ, trở thành nét
văn hóa đặc trưng trong lãnh đạo, quản lý cũng như trong giao tiếp, ứng xử. Đó
là sự mẫu mực trong đạo đức, trong lối sống, là tấm gương sáng về tinh thần nêu
gương, suốt đời hy sinh, cống hiến vì sự nghiệp cách mạng, vì Tổ quốc và nhân
dân.

Chủ tịch
Hồ Chí Minh là sự nêu gương về sự kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng,
kiên định mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội: Một
trong những biểu hiện tiêu biểu nhất của phong cách nêu gương ở Chủ tịch Hồ Chí
Minh chính là sự kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên định mục tiêu và
con đường cách mạng: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Người luôn
coi chủ nghĩa Mác – Lênin là “cẩm nang thần kỳ”, là “mặt trời chói lọi” soi
đường cho cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng lập,
rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam và cùng Trung ương Đảng vận dụng, phát triển
sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với điều kiện cụ thể của nước ta. Dưới
ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ
tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh để
giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiến lên con đường xây dựng chủ
nghĩa xã hội. Kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, đến nay, vẫn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
trong đường lối, chủ trương của Đảng – là giá trị “bất biến” trong suốt chiều
dài lịch sử, hiện tại và tương lai của cách mạng Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu gương về phong cách
lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn: Một trong những biểu hiện nổi bật của phong cách nêu
gương ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, gắn bó
mật thiết với thực tiễn và nhân dân. Theo Người, người đứng đầu trước hết phải
có phương pháp làm việc khoa học, có tinh thần dân chủ, tôn trọng sự thật khách
quan và phải thực sự gần dân, hiểu dân, vì dân. Trong công việc lãnh đạo, Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ phải đi sâu, đi sát cơ sở; điều tra,
nghiên cứu, nắm chắc tình hình; hiểu rõ việc, hiểu rõ người. Mọi chủ trương, kế
hoạch đều phải được xây dựng trên cơ sở thực tiễn, có mục tiêu rõ ràng, sát với
yêu cầu, điều kiện cụ thể. Việc tổ chức thực hiện phải kèm theo kiểm tra kịp
thời, thiết thực, có trọng điểm, chú trọng các điển hình tiên tiến, kết hợp
giữa nắm chắc cụ thể và nhìn nhận toàn diện. Người nhấn mạnh: phải thực hiện
tác phong “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, vừa cẩn
thận, sâu sát vừa nhanh nhẹn, quyết liệt, làm việc đến nơi đến chốn; thường
xuyên tổng kết kinh nghiệm, rút ra bài học từ thực tiễn. Phong cách lãnh đạo
của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự tôn trọng tuyệt đối với nhân dân.
Đối với Người, tôn trọng nhân dân không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, mà còn là
lẽ sống tự nhiên, thấm sâu trong tư tưởng và hành động. Người sống giữa nhân
dân, được nhân dân yêu thương, đùm bọc, và cuối đời lại trở về với nhân dân. Uy
tín và sức thuyết phục của Chủ tịch Hồ Chí Minh không đến từ quyền lực hành
chính, mà từ đạo đức, lối sống và phong cách gần dân, sát dân, vì dân. Người
luôn chú ý lắng nghe và giải quyết kịp thời kiến nghị chính đáng của quần
chúng, hoan nghênh và trân trọng tiếp thu cả những lời phê bình của nhân dân.
Người không bao giờ để mình cao hơn người khác, không chấp nhận việc tâng bốc,
suy tôn, mà luôn ứng xử khiêm tốn, chân tình và nhân ái. Phong cách ấy góp phần
tạo nên hình ảnh một nhà lãnh đạo vừa trang nghiêm, mẫu mực, lại vừa gần gũi,
giản dị, đầy sức cuốn hút và cảm hóa sâu sắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao
vai trò tập thể, gắn bó và phát huy trí tuệ tập thể. Người không bao giờ chấp
nhận thái độ chuyên quyền, độc đoán – điều mà theo Người, là hoàn toàn xa lạ
với phẩm chất người cán bộ cách mạng. Người trân trọng ý kiến của tất cả mọi
người, không phân biệt địa vị, chức vụ, cấp bậc, và luôn lắng nghe, tiếp thu để
hoàn thiện quyết sách. Trong 10 năm (1955–1965), dù tuổi cao, công việc bộn bề,
Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian đi thăm hơn 700 địa điểm trên khắp mọi
miền đất nước: từ địa phương, nông trường, hợp tác xã đến xí nghiệp, đơn vị bộ
đội… Người không chỉ đến để kiểm tra, mà để lắng nghe, cảm nhận, thấu hiểu đời
sống của nhân dân. Người phê phán hiện tượng “quan trên về làng”, yêu cầu cán
bộ khi về cơ sở phải “đi vào nhân dân”, sống cùng nhân dân, hòa mình với nhân
dân. Bác từng nhắc nhở: “Phải làm sao cho cán bộ mỗi khi về làng, nhân dân niềm
nở vỗ vai, mời ‘anh’ uống nước mới tốt. Nếu cán bộ về mà dân trải chiếu hoa,
bắt gà làm cơm là không được. Bao giờ dân coi cán bộ là người của dân, đối với
cán bộ không còn ‘lạy cụ ạ’ thì dân mới dám nói, mới dám phê bình”.Đó chính là
phong cách nêu gương lớn lao của một lãnh tụ – phong cách lãnh đạo gắn bó máu
thịt với nhân dân, lấy dân làm gốc, làm nền tảng vững chắc cho mọi thành công
của cách mạng Việt Nam.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu gương về thực hành đoàn kết, quy tụ nhân tài: Một trong những phẩm chất tiêu biểu trong phong cách nêu
gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là tinh thần đoàn kết và khả năng quy tụ,
tập hợp nhân tài, phát huy sức mạnh tổng hợp vì sự nghiệp cách mạng. Theo
Người, đoàn kết là sức mạnh to lớn, là yếu tố quyết định mọi thắng lợi. Người
đã nêu một chân lý sâu sắc: “Đoàn kết,
đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công, đại thành công”. Chủ
tịch Hồ Chí Minh là hạt nhân, linh hồn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ
sự nghiệp giải phóng dân tộc đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người
luôn nêu cao tinh thần đoàn kết trong Đảng, trong nhân dân và với bạn bè quốc
tế. Người căn dặn: “Các đồng chí từ
Trung ương đến chi bộ phải giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ gìn con ngươi
của mắt mình”. Đối với toàn dân tộc, Người khẳng định đại đoàn kết là
nền tảng vững chắc, là cội nguồn sức mạnh để huy động mọi tầng lớp, giai cấp,
tôn giáo, dân tộc cùng đồng lòng chung sức dựng xây Tổ quốc. Đối với bạn bè
quốc tế, Người luôn thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản: “Bốn phương vô sản đều là anh em”, “Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em”.
Phong cách đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải lời nói suông mà bắt
nguồn từ chính trí tuệ, đạo đức và nhân cách mẫu mực của Người. Chính tấm gương
sáng của Người đã trở thành ngọn cờ quy tụ, dẫn dắt các lực lượng cách mạng,
khơi dậy tinh thần dấn thân, dám nghĩ, dám làm, dám hy sinh vì lợi ích chung.
Người không chỉ nói về đoàn kết mà còn thực hành đoàn kết bằng hành động nhất
quán, sâu sắc trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình. Đặc biệt, Chủ
tịch Hồ Chí Minh là tấm gương điển hình về tư duy chiến lược trong trọng dụng
và quy tụ nhân tài. Trong hành trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo đất nước,
Người đã dày công đào tạo, bồi dưỡng lớp lớp học trò ưu tú – những nhà lãnh đạo
xuất sắc của Đảng và Nhà nước. Người đặc biệt chú trọng phát hiện, quy tụ, đoàn
kết đội ngũ trí thức, thanh niên yêu nước – những con người đầy nhiệt huyết,
sẵn sàng hy sinh cho lý tưởng cách mạng. Đồng thời, Người cũng trân trọng, tin
dùng các nhân sĩ, trí thức có uy tín, có đức, có tài; kể cả trí thức người Việt
Nam ở nước ngoài – những người cảm phục trước tấm gương đạo đức, uy tín và tinh
thần yêu nước của Người mà tình nguyện từ bỏ vinh hoa, phú quý trở về quê hương
để cống hiến cho kháng chiến và kiến quốc. Phong cách nêu gương của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong thực hành đoàn kết và quy tụ nhân tài là bài học sâu sắc cho mọi
cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu trong giai đoạn hiện nay. Đoàn
kết không chỉ là phương châm hành động mà còn là tiêu chí đạo đức, là năng lực
tổ chức, là phẩm chất chính trị của người lãnh đạo cách mạng. Muốn làm được
điều đó, người cán bộ lãnh đạo trước hết phải thật sự gương mẫu về tư tưởng,
đạo đức, phong cách – như chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu gương trọn
đời.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu gương về tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng: Lời nói và việc làm của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người
đứng đầu có ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp cách mạng, tác động trực tiếp đến
niềm tin của quần chúng nhân dân. Khi người đứng đầu yếu kém về đạo đức, thiếu
trách nhiệm, tác phong trì trệ sẽ không chỉ làm suy giảm hiệu quả công việc mà
còn tiềm ẩn nguy cơ làm thay đổi bản chất của Đảng, thậm chí đe dọa đến sự tồn
vong của chế độ. Vì vậy, việc tu dưỡng, rèn luyện và nêu gương về đạo đức cách
mạng là yêu cầu mang tính sống còn đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ
Chí Minh là tấm gương tiêu biểu, suốt đời nói đi đôi với làm, lời nói thống
nhất với hành động, tư tưởng hòa quyện cùng nhân cách. Phong cách nêu gương ở
Người không nằm ở lời hô hào mà thể hiện sinh động trong đời sống thường nhật –
từ cách ăn, mặc, ở, đến lối sống giản dị, cần kiệm, liêm chính. Đó là một phong
cách sống và làm việc mẫu mực, đầy sức cảm hóa, giáo dục và thuyết phục. Việc
tu dưỡng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh không mang tính hình thức mà bắt
nguồn từ sự tự giác sâu sắc và lòng yêu nước, thương dân. Ngay cả trong những
điều kiện đặc biệt khi là nguyên thủ quốc gia, Người vẫn giữ cho mình lối sống
thanh đạm, giản dị. Khi đến thăm ngôi nhà sàn tại Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí
Minh, đồng bào trong nước và bạn bè quốc tế không khỏi xúc động nghẹn ngào
trước không gian sống khiêm nhường, mộc mạc – một biểu tượng sống động về đạo
đức cách mạng. Ngay cả khi sắp đi xa, Người vẫn thể hiện đức tính khiêm nhường
và tinh thần tiết kiệm vì dân, vì nước. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để
khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân”, và dặn dò “Trên mộ, nên xây một cái nhà giản đơn, rộng
rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi”.
Từng câu chữ mộc mạc ấy chứa đựng biết bao tình yêu thương, tinh thần vì dân,
vì nước đến hơi thở cuối cùng. Phong cách nêu gương trong tu dưỡng đạo đức cách
mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chuẩn mực sống, là bài học sâu sắc cho mỗi
cán bộ, đảng viên – nhất là người đứng đầu – trong bối cảnh hiện nay. Nêu gương
không chỉ ở lời nói, mà phải bắt đầu từ sự tự soi, tự sửa, tự rèn luyện; từ
việc nhỏ nhất trong lối sống, trong công việc, đến thái độ phục vụ nhân dân. Đó
là cách thiết thực nhất để giữ gìn phẩm chất cách mạng, củng cố niềm tin của
nhân dân và bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của Đảng.
Chủ tịch
Hồ Chí Minh nêu gương về tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật: Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm không chỉ
là đức tính cá nhân mà còn là bổn phận chính trị, là một chuẩn mực đạo đức của
người cán bộ, đảng viên. Tinh thần ấy thể hiện trong từng lời nói, việc làm
hằng ngày, trong thái độ đối với tổ chức, với cấp trên, với tập thể, với nhân
dân và cả với chính bản thân mình. Người khẳng định: “Tinh thần trách nhiệm là gì? Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên
giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần,
lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công.
Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp
sao làm vậy, v.v., là không có tinh thần trách nhiệm”. Với Chủ tịch Hồ
Chí Minh, tinh thần trách nhiệm không tách rời ý thức tổ chức kỷ luật. Đó là
phẩm chất cốt lõi của người cán bộ cách mạng, là biểu hiện trong sáng nhất của
đạo đức công dân, đạo đức người cộng sản chân chính – hết lòng, hết sức phấn
đấu vì sự nghiệp của nhân dân, vì sự phát triển của đất nước. Cả cuộc đời hoạt
động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là minh chứng sống động cho tinh thần
trách nhiệm cao cả và ý thức kỷ luật nghiêm minh. Trong thực tiễn lãnh đạo,
Người không né tránh khuyết điểm, sẵn sàng nhận trách nhiệm trước Đảng, trước
nhân dân. Khi nhận thấy sai lầm trong cải cách ruộng đất, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã thẳng thắn tự phê bình, xúc động rơi nước mắt trong phiên họp Quốc hội, thể
hiện tấm lòng chân thành và trách nhiệm sâu sắc của một người lãnh đạo chân
chính.
Tại
Hội nghị Trung ương 10 (khóa II), Người đề nghị: “Hội nghị xét sai và sửa sai cấp tốc, không được cầu toàn. Trên cơ sở
thi hành kỷ luật nghiêm minh mà bảo vệ Đảng”. Người tự kiểm điểm sâu
sắc: “Quan liêu, không sát quần chúng,
không sát thực tế, chỉ xem báo cáo, tin vào người báo cáo”. Đây là biểu
hiện mẫu mực của tinh thần dám chịu trách nhiệm, dám sửa sai vì lợi ích chung
của Đảng và của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, sức mạnh vô địch của
Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác và ý thức tổ chức kỷ luật của đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Trong bối cảnh sự nghiệp cách mạng luôn đối mặt với những thế
lực thù địch tìm cách phá hoại, thì việc giữ vững tổ chức Đảng tập trung, thống
nhất, cùng với việc cán bộ, đảng viên nghiêm túc chấp hành kỷ luật là điều kiện
tiên quyết để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Phong
cách nêu gương về tinh thần trách nhiệm, kỷ luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính
là bài học lớn, có giá trị trường tồn trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Đó không chỉ là tấm gương cho thế hệ cán bộ đảng viên hôm nay noi theo, mà còn
khắc sâu trong tâm trí của mỗi người dân Việt Nam. Nhà thơ Tố Hữu đã viết:
“…Một
đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn…”
Phong
cách nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng cao đẹp, kết tinh
những giá trị cốt lõi của đạo đức cách mạng Việt Nam. Với tinh thần kiên định,
gần dân, trọng dân, tinh thần đoàn kết, sự gương mẫu trong đạo đức, lối sống và
tinh thần trách nhiệm cao độ, Người đã để lại một di sản tinh thần vô cùng quý
báu, là kim chỉ nam cho mọi cán bộ, đảng viên – đặc biệt là người đứng đầu –
trong việc tu dưỡng, rèn luyện và phụng sự Tổ quốc, nhân dân. Trong bối cảnh
hiện nay, khi Đảng ta đang đẩy mạnh công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ
thống chính trị trong sạch, vững mạnh; việc học tập và làm theo phong cách nêu
gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây không chỉ
là yêu cầu về đạo đức cách mạng mà còn là nền tảng để củng cố niềm tin của nhân
dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, góp phần xây dựng Đảng vững
mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là
người đứng đầu, phải thấm nhuần và thực hành sâu sắc phong cách nêu gương của
Bác trong tư duy và hành động, để xứng đáng là công bộc của dân, là người lãnh
đạo chân chính của nhân dân.