Học tập tấm gương mẫu mực, sáng ngời của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
Chủ
tịch Hồ Chí Minh, tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng - Ảnh: T.L
1. Tư
tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thể hiện năng lực tư
duy khoa học, sáng tạo và phẩm chất đạo đức, phong cách, lối sống thanh cao của
một danh nhân văn hóa kiệt xuất nhưng lại rất gần gũi với cuộc sống, công việc
hàng ngày, ai cũng có thể học tập, làm theo được. Theo Người, thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí không chỉ là một yêu cầu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội,
là điều kiện bắt buộc trong thực thi đời sống mới mà còn là một phẩm chất đạo đức
cần phải có của người cách mạng. Ngay từ năm 1927, trong tác phẩm Đường Kách
mệnh dùng để huấn luyện lớp cán bộ cách mạng đầu tiên, Hồ Chí Minh đã chỉ ra tư
cách của người cách mệnh: tự mình phải cần kiệm, vị công vong tư, không hiếu
danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, ít lòng ham muốn vật chất... Trong
nhiều bài viết và nói sau này, Người đều đề cập đến bốn đức quan trọng là cần,
kiệm, liêm, chính. Theo Người, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là thực
hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu. “Muốn xây dựng
chủ nghĩa xã hội, phải có con người xã hội chủ nghĩa và có tư tưởng xã hội chủ
nghĩa. Phải đánh bạt những tư tưởng công thần, địa vị, danh lợi của chủ nghĩa
cá nhân, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa tập thể thắng lợi, tức là phát huy tinh
thần cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ của công, chống tham ô, lãng
phí”(1).
Tấm gương mẫu mực Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí biểu hiện xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Rất nhiều
câu chuyện được kể lại từ những người được sống và làm việc cùng Bác đã minh
chứng cho nhân cách của vị lãnh tụ “một đời thanh bạch, chẳng vàng son”, “nâng
niu tất cả, chỉ quên mình”: Trong kháng chiến chống Pháp, Bác cũng sinh hoạt
như anh em bảo vệ, ăn chung với mọi người… Trời rét (...), chỉ đắp chiếc chăn
cũ nhuộm nâu, quần áo của Bác đều nhuộm nâu. Bác tự đánh máy (...). Văn phòng
Trung ương cử một đồng chí sang giúp Bác đánh máy, Bác phê bình là lãng phí(2).
Chỉ khi sắp sang Pháp, vào cuối tháng 5/1946, Bác mới may thêm một bộ dạ đen,
cũng cùng một kiểu với bộ kaki vẫn mặc. Hành lý của một vị Chủ tịch nước sang
đàm phán về việc sống còn của dân tộc với Chính phủ Pháp, xếp không đầy một
vali khổ nhỡ. Ngoài mấy bộ quần áo nói trên, có một đôi giầy da. Không có bác sĩ
đi theo để săn sóc Bác dọc đường. Đồ dùng riêng của Bác là cái đồng hồ cũ
kỹ(3).
Đồng chí Việt Phương, nguyên Thư ký của Thủ tướng Phạm Văn
Đồng, nhớ mãi về một chi tiết trong đời sống hàng ngày của Bác: Đó là bất kỳ
cái gì có tí lãng phí cũng quyết không để lãng phí nhưng đã cần thì dùng cho đủ
mức cần. Tháng 2/1969, Bác muốn đi thăm rừng quốc gia Cúc Phương. Một số đồng
chí lãnh đạo giới thiệu ở đó có nhiều cái hay. Anh em xin Bác đi máy bay lên
thẳng cho đỡ mệt nhưng Bác không chịu và nói rằng: “Các chú cho hễ là Chủ tịch
Đảng, Chủ tịch nước thì đi đâu muốn dùng phương tiện gì thì dùng à? Không phải
thế đâu. Để Bác khỏe lên, Bác đi ô tô đến thăm rừng Cúc Phương (...). Máy bay
lên thẳng, để khi nào có người của chúng ta bị tai nạn hoặc bị đau nặng ở vùng hẻo
lánh khó chạy chữa thì dùng máy bay lên thẳng đón về nơi trung tâm có bệnh viện
lớn. Hoặc lúc nào nước sông lên to, mùa bão cần đi hộ đê thì lấy máy bay lên
thẳng mà dùng. Chứ không phải bất kỳ đi đâu, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước cứ
dùng máy bay lên thẳng mà đi”. Bác nhất định như vậy và vì thế ý muốn của Bác
là đi thăm rừng Cúc Phương cuối cùng Bác không thực hiện được. Nhưng thà thế
chứ Bác không dùng máy bay lên thẳng(4).
Đồng chí Lê Hữu Lập, nguyên cán bộ văn phòng Bác kể lại: “Bác
Hồ tiết kiệm, cũng cần hiểu tiết kiệm của Bác. Một buổi sáng làm việc với Bác
bên dưới nhà sàn, tôi đã chuẩn bị tài liệu và một chiếc bút chì xanh đỏ để
trên bàn, ra ngoài một lát trở vào không biết anh nào đã cầm cây bút đi mất.
Tìm không thấy mà Bác đang ngồi chờ, tôi lục ống bút chì chỉ còn một mẩu xanh
đỏ bằng ngón tay, đành phải cầm vậy. Sang đọc tài liệu đến chỗ cần đánh dấu,
tôi cẩn thận cầm kín mẩu bút trong lòng bàn tay, sợ Bác nhìn thấy. Lần thứ hai,
Bác phát hiện. Bác với tay lấy cây bút xanh đỏ trong ống bút của Bác đưa cho
tôi và vẫn nhẹ nhàng bảo: “Làm gì mà chú phải khổ sở thế!”. Bác giản dị nhưng
đàng hoàng. Trời nóng ngồi làm việc một mình với chúng tôi có thể Bác mặc áo
may ô, quần cộc, nhưng đi ra ngoài dù kaki, quần áo nâu cũng phải phẳng phiu.
Không chỉ một lần Bác phê bình đồng chí cán bộ cao cấp ra chỗ tiếp khách không
ăn mặc chỉnh tề, tuy đồng chí này không phải nhân vật chủ chốt”(5).
Cả một đời vì nước, vì dân, tất cả những gì Bác tiết kiệm trong cuộc sống cá
nhân đều là để dành phục vụ tổ chức, đoàn thể, cách mạng. Đồng bào trong nước
và các bạn nước ngoài tặng Bác nhiều vải lụa tốt, nhưng Bác không cho may mà
dùng để làm tặng phẩm cho đồng bào và chiến sĩ có thành tích trong kháng chiến.
Với sách cũng vậy, dù Bác nhận được rất nhiều sách của các tác giả, các nhà
xuất bản gửi biếu, sách của những cá nhân và tổ chức nước ngoài gửi tặng qua Bộ
Ngoại giao hoặc các đoàn của ta đi công tác mang về... nhưng Bác không có thư
viện riêng. Sách báo đọc xong, Bác thường gửi tới các nơi cần sử dụng. Những sách
báo cần làm tư liệu, Bác giữ lại, nhưng sử dụng xong Bác cũng gửi đi tới các
nơi cần sử dụng. Bác có một cuốn sổ tiết kiệm (đứng tên đồng chí Lê Hữu Lập)
gửi ở quầy tiết kiệm phố Hàng Gai, Hà Nội. Tiền tiết kiệm được dành dụm từ tiền
lương hàng tháng còn lại sau khi trừ mọi chi tiêu sinh hoạt và tiền nhuận bút
mà Bác viết bài cho báo Nhân dân. Bác thường dùng tiền tiết kiệm làm quà tặng
trong những dịp cần thiết (như có dịp đi công tác về, Bác thấy bộ đội phòng
không trực chiến dưới ánh nắng chói chang của mùa hè, Bác đã chỉ thị rút số
tiền tiết kiệm trong sổ trao cho Bộ Quốc phòng làm quà tặng bộ đội phòng không
để có thêm nước giải khát). Dịp Bác đi nước ngoài dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên
Xô, là đại biểu mời, Bác được Đảng bạn tặng một số tiền và Bác đã dặn thư ký Vũ
Kỳ nhập số tiền đó vào quỹ Đảng. Bác coi số tiền đó là của chung chứ không để
vào sổ tiết kiệm của Người.
Trong tình hình kinh tế và chính trị của dân ta hồi đó, việc Chủ tịch Hồ Chí
Minh sinh hoạt bình thường như cán bộ và nhân dân chứng tỏ Bác hiểu rất rõ, rất
sát tình hình đời sống vật chất của nhân dân và cán bộ, đồng thời thể hiện tấm
lòng của Bác, một lãnh tụ muốn cùng chịu gian khổ với dân. Sự giản dị ấy, phong
thái ung dung ấy kết hợp nhuần nhị những nét cao đẹp của tính cách dân tộc với
đạo đức cộng sản, có sức thu hút mạnh mẽ trái tim mọi người và khiến cho Bác
càng trở nên vĩ đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm,
tích cực chống lãng phí để xây dựng đất nước, xây dựng CNXH. Người luôn nhấn
mạnh đến vấn đề này tại mỗi hội nghị, mỗi đại hội, mỗi kỳ họp Quốc hội và nhiều
bài nói, bài viết khác. Trong bài Quốc hội ta vĩ đại thật (Báo Nhân dân, số
2304, ngày 10/7/1960) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói đến nhiệm vụ của mỗi vị đại
biểu Quốc hội để xứng đáng là người đày tớ trung thành của nhân dân là phải: “-
Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; - Một lòng một dạ phục vụ nhân
dân, phục vụ chủ nghĩa xã hội; - Làm gương mẫu trong việc thi đua tăng gia sản
xuất, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham ô”. Người còn viết nhiều tài
liệu để tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân, yêu cầu trong mọi
hành động, mọi lĩnh vực và mỗi người đều phải tiết kiệm, chống lãng phí. Bác
lưu ý đặc biệt việc phải triệt để tiết kiệm của công vì đó là mồ hôi, công sức
của dân, xương máu của bộ đội, chiến sĩ. Với viên chức tại các công sở, Bác yêu
cầu: “phải biết tiết kiệm đồng tiền kiếm được, cũng như các vật liệu và đồ dùng
trong các sở. Rút bớt hết những sự gì không cần thiết, chớ phao phí giấy má và
các thứ của công(6). Với bộ đội, Bác căn dặn rất cụ thể về việc giữ gìn, bảo vệ
chiến lợi phẩm bởi đó cũng là của công, của nhân dân, của quốc gia, không phải
của địch; chiến sĩ ta phải đổ máu mới lấy lại được cho nên “Không được phung
phí, hoặc chiếm làm của riêng cá nhân, khi canh gác phải biết thu dọn cho ngăn
nắp, và che mưa nắng cho chu đáo”(7). Bác còn chỉ dẫn các cấp chỉ huy trong
quân đội: “Không tiêu hoang phí tiền riêng của các chú cũng chưa phải là Kiệm.
Các chú còn phải biết tiết kiệm của công, dạy cho bộ đội biết tiết kiệm của
công, thì mới thật là Kiệm. Các chú không lấy của công làm của tư, không lấy
chiến lợi phẩm về cho gia đình bè bạn mới chỉ là Liêm một nửa. Các chú phải dạy
cho bộ đội và khuyến khích nhân dân không lấy của công, không lấy chiến lợi
phẩm làm của riêng mới thật là Liêm”(8). Với thanh niên là những chủ nhân tương
lai của nước nhà, Bác đặt ra yêu cầu không chỉ giáo dục cho họ về vấn đề tiết
kiệm, chống lãng phí mà còn phải rèn luyện tạo thành thói quen trong công việc
và cuộc sống hàng ngày. Từ tháng 2/1955, trong bài viết “Bảo vệ tài sản công”,
Bác đã căn dặn: “Các ngành giáo dục cần phải bồi dưỡng cho thanh niên thói quen
tiết kiệm, bảo vệ của chung; chống lãng phí xa hoa, xem khinh lao động” . Với
chị em phụ nữ Việt Nam vốn có tính cách tốt đẹp là cần cù, chịu khó, biết lo
toan, Bác khuyến khích chị em hăng hái thi đua thực hiện “cần kiệm xây dựng Tổ
quốc, cần kiệm xây dựng gia đình”. Với cán bộ ngành ngoại giao, Bác căn dặn
những điều cần chú ý: “Cán bộ ngoại giao ta ra ngoài phải có hình thức làm sao
cho gọn ghẽ, sạch sẽ, nhưng không được lãng phí, xa hoa. Trường hợp làm tiệc
mặn, song nếu ta làm được tiệc trà thay vào là tốt nhất. Ta không thể đua với
người được. Người giàu có, còn ta thì nghèo. Chính vì vậy, phải hết sức tiết
kiệm. Ngoại giao càng phải tiết kiệm”(9). Trong Thư gửi đồng bào công giáo nhân
dịp lễ Nôen 1953, Bác kêu gọi đồng bào công giáo tham gia kháng chiến cứu nước,
thi đua tăng gia sản xuất và tiết kiệm, cải cách ruộng đất làm cho người cày có
ruộng, tín ngưỡng tự do. Bác khẳng định đó cũng chính là “làm trọn chính sách
của Chính phủ cũng là làm trọn tinh thần của Chúa Cơ đốc”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn viết nhiều bài báo biểu dương trực
tiếp các cá nhân, tập thể kiểu mẫu, gương mẫu, điển hình trong sản xuất và tiết
kiệm, chống lãng phí như trong bài báo Một làng tiến đến kiểu mẫu (Báo Cứu quốc
số 2141, ngày 12/8/1952) Người đã làm thơ ca ngợi gương của làng Thọ Xuân
(Thanh Hóa):“Phân công hợp lý cả làng/ Sản xuất tiết kiệm rõ ràng thi đua/ Một
mùa gặt bằng hai mùa/ Dân no, nước mạnh tha hồ đánh Tây”; bài báo Công nhân
gương mẫu và gương mẫu của công nhân (Báo Nhân dân, số 247, ngày 27/10/1954) ca
ngợi các cá nhân và tập thể công nhân các nhà máy Gia Lâm, nhà máy điện Bờ Hồ
trong thực hiện cần kiệm, đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng; bài báo
Gương tốt của thanh niên Lỗ Khê (Báo Nhân dân, số 3582, ngày 18/1/1964) với kế
hoạch Tết tươi vui và tiết kiệm, tạo phong trào thi đua cho các chi đoàn Hà Nội
và nhiều tỉnh khác… Bởi theo quan niệm của Người, một tấm gương sống, một điển
hình thực tế và sinh động có giá trị thuyết phục hơn nhiều lần những bài diễn
văn tuyên truyền. Nếu cán bộ, đảng viên, công chức kêu gọi nhân dân cần kiệm mà
mình lười biếng, sống xa xỉ, lãng phí thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô
ích.
Cùng với tuyên truyền, kêu gọi thực hành tiết kiệm, chống
lãng phí, bản thân Người luôn gương mẫu cho cán bộ, đảng viên, nhân dân làm
theo. Những ngày đầu vừa thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trước nạn
đói đang trầm trọng, trên tinh thần “sẻ cơm nhường áo”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề
nghị với đồng bào cả nước và bản thân Người đã gương mẫu thực hiện trước: “Cứ
10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để
cứu dân nghèo”(10). Đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác kể lại: Nhân dân ta lúc đó
dù còn nhiều khó khăn nhưng Cụ Hồ đã kêu gọi thì từ Nam chí Bắc đều hưởng ứng
nhiệt liệt. Bởi, không phải Cụ Hồ chỉ kêu gọi mà chính Cụ Hồ đã làm, đã thực
hiện và là người thực hiện đầu tiên... Nhớ hồi đó có nhiều thư từ khắp nơi gửi
đến, có thư của các cụ già, của phụ nữ, của cả các cháu thiếu nhi... gửi đến
Chính phủ, đến Cụ Hồ, đề nghị Bác đừng nhịn ăn. Cảm động hơn có nhiều người xin
nhịn thêm để thay phần cho Bác. Nhưng câu trả lời là: “Tôi là người nêu ra, tôi
phải làm gương mẫu”(11). Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân cả nước đã
quyên góp được hàng vạn tấn gạo cứu đói. Phong trào tăng gia sản xuất được đẩy
mạnh, diện tích trồng lúa và hoa màu tăng lên, nạn đói đã sớm được khắc phục.
Tấm gương đạo đức sống trong sạch, tiết kiệm của Chủ tịch Hồ
Chí Minh không chỉ là mẫu mực cho mọi người Việt Nam học tập, làm theo mà còn
được báo chí nước ngoài, bạn bè quốc tế nhiều lần nhắc đến, mến phục. Học giả
Trung Quốc Cốc Nguyên Dương nhận xét: “Suốt đời, Người luôn luôn gìn giữ đạo
đức cao đẹp “cần kiệm liêm chính” và “chí công vô tư”, dùng 8 chữ đó để giáo
dục cán bộ và nhân dân”(12). Đồng chí Gian-nét Véc-mét Tô-rê, nguyên Ủy viên Bộ
Chính trị Đảng Cộng sản Pháp viết: “Người sống trong một căn nhà nhỏ đơn sơ,
trong đó chỉ có một cái giường con, và một chiếc bàn làm việc. Chủ tịch Hồ Chí
Minh vẫn mặc chiếc áo khoác ngoài cũ, đi đôi dép cao su làm bằng lốp ô tô, không
có gì hơn thế. Giữa bạn bè người ta không biết lấy gì biếu Chủ tịch mà hình như
Chủ tịch cũng không cần điều gì khác hơn là sự ủng hộ chính nghĩa đối với Việt
Nam”(13). Nhà báo Pháp Phơ-răng-xoa Phông-vi-ây An-ki-ê ca ngợi: “Vinh quang
đến tột đỉnh, nhưng con người Cụ vẫn như trước kia, nghĩa là vẫn ghét xa hoa,
hào nhoáng, vẫn giản dị về ăn mặc cũng như trong tác phong sinh hoạt. Khi Cụ để
cho các em học sinh vuốt râu mình lúc đến thăm trường, hoặc khi Cụ đi đôi dép
bằng lốp cao su, thì đều không có chút gì là mị dân hoặc giả tạo cả”(14). Như
vậy, nếp sống giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đơn thuần là tiết kiệm
mà mang ý nghĩa rất cao đẹp.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiết kiệm không chỉ xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể
của đất nước, mà còn từ tấm lòng yêu nước thương dân tha thiết. Điều này không
chỉ cần thiết trong thời kỳ đất nước còn trong chiến tranh, mà còn có giá trị
thực tiễn đối với giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân lao động được cải thiện rõ rệt. Dưới
ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí luôn được
Ðảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm chỉ đạo, là nhiệm vụ thường xuyên, liên
tục, xuyên suốt từ chủ trương, đường lối, cơ chế chính sách đến tổ chức thực
hiện, nhằm quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nền kinh
tế cho phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
đã góp phần đưa công cuộc đổi mới đạt những thành tựu vĩ đại; đạt và vượt hầu
hết các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội qua các nhiệm kỳ; huy
động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, bảo
đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội của đất
nước.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả, lãng phí còn diễn ra khá phổ
biến, dưới nhiều dạng thức khác nhau, đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm
trọng cho phát triển. Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã coi lãng phí là
một căn bệnh - “bệnh lãng phí”, nếu không có những giải pháp đồng bộ phòng ngừa
và đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả sẽ gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho phát
triển. Mới đây, trong bài viết Chống lãng phí, Tổng bí thư Tô Lâm cũng chỉ ra
thực trạng lãng phí đã và đang còn tồn tại ở nước ta, thậm chí là tồn tại dai
dẳng, không chỉ khiến mất đi tài sản công, lãng phí nguồn lực quốc gia, thu hẹp
những cơ hội phát triển mà đau xót hơn là gây mất lòng tin trong nhân dân đối
với Đảng cầm quyền.
Việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng, chống
lãng phí vào thực tiễn để đưa ra giải pháp phù hợp đối với mỗi tổ chức, đơn vị
trong giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ những giải pháp để chống tham ô, lãng phí, quan
liêu. Người nhấn mạnh, muốn đánh thắng nó, phải có chuẩn bị thật chu đáo, có kế
hoạch, có tổ chức, có lãnh đạo và điều quan trọng là phải đào tạo được một đội
ngũ cán bộ trung kiên làm nòng cốt để chống. Người phản đối việc bố trí những
người đã “nhúng chàm” làm nhiệm vụ chống tham ô, lãng phí, quan liêu, vì làm
như vậy, thực chất là “nối giáo cho giặc”. Theo quan điểm, tư tưởng của Người,
các bước cần tiến hành để trừ khử tham ô, lãng phí, quan liêu là:
Một là, phải
làm tốt công tác tư tưởng, làm cho mọi người hiểu tham ô, lãng phí, quan liêu
có hại cho dân, cho nước như thế nào và vì sao phải chống những nạn ấy? Phải
kiên quyết sửa chữa những nhận thức không đúng về chống tham ô, lãng phí, quan
liêu. Để có thể tiết kiệm, chống lãng phí, cán bộ, đảng viên cũng cần rèn luyện
phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc từ đó tạo ra sự tin tưởng, đồng thuận
trong dân, tạo ảnh hưởng tích cực đến công tác xây dựng và phát triển đất nước.
Hai là, phải
nghiên cứu để có lý luận chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Nghiên cứu kỹ và
vận dụng tốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc chống tham
ô, lãng phí, quan liêu; phải sửa đổi lối làm việc; nêu cao tinh thần phê bình
và tự phê bình. Đặc biệt, đối với cán bộ cao cấp phải “thật thà tự kiểm thảo để
làm gương mẫu”; phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Phải kiên quyết “nhổ
cỏ” và khi đã nhổ thì phải nhổ tận gốc rễ.
Ba là, phải
nâng cao ý thức trách nhiệm trong công việc, nâng cao trình độ quản lý kinh tế
- tài chính; tăng cường kiểm tra, giám sát, không để tạo kẽ hở cho bọn tham ô,
lãng phí, quan liêu đục khoét. Trong cuộc đấu tranh này, phải dựa vào nhân dân,
thực hành dân chủ rộng rãi, huy động lực lượng quần chúng tham gia. “Quần chúng
tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”.
Bốn là, phải có phương pháp giữ gìn tiền bạc, phải thực hành một chế độ tiết kiệm
nghiêm ngặt, nhất là tiết kiệm trong chi tiêu ở các cơ quan hành chính, giảm
thiểu việc họp hành nếu xét thấy nó không cần thiết.
Năm là, trong
công cuộc đấu tranh chống lãng phí, các cơ quan thanh tra nhà nước đóng vai trò
rất quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “các ban thanh tra phải chú ý
kiểm tra chống lãng phí, tham ô. Phát hiện ra những việc lãng phí, tham ô,
chẳng những cần báo cáo với Trung ương và Chính phủ biết và giải quyết mà còn
giúp các cấp lãnh đạo địa phương tìm ra những biện pháp để tích cực chống lãng
phí, tham ô”. Như vậy, thanh tra, kiểm tra không những để phát hiện vi phạm,
phát hiện lãng phí để xử lý. Quan trọng hơn, qua kiểm tra, các cơ quan thanh
tra nhà nước tìm hiểu nguyên nhân, tìm ra biện pháp chống lãng phí, từ đó, kiến
nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, với bản thân các cơ quan là đối
tượng thanh tra, kiểm tra để có các giải pháp hữu hiệu nhằm thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí có hiệu quả.
Cuộc đấu tranh chống lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của
công tác xây dựng Đảng, là nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống
chính trị và toàn xã hội. Trong cuộc chiến với thứ “giặc nội xâm” đầy cam go,
phức tạp này, cần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên và người
lao động, trước hết là sự nêu gương của người đứng đầu tại từng cơ quan, tổ
chức, cá nhân khu vực công, khu vực tư để từ đó “tạo sự lan tỏa mạnh mẽ, trở
thành tự nguyện, tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân, văn hóa ứng xử
trong thời đại mới” như Tổng bí thư Tô Lâm đã kêu gọi./.
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.12,
tr.604.
(2) (3) Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb, Chính trị quốc gia, H,
2005, t.1, tr.341-343, 234-235.
(4) (5) (9) Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Sđd, t.2, tr.560-561,
731-733, 924-925.
(6) Báo Cứu quốc, số 146, ngày 19/1/1946.
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.458-459.
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.220.
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 31.
(11) Vũ Kỳ: Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb Chính trị quốc gia, H,
2005.
(12) UNESCO và Uỷ ban KHXH Việt Nam: Hội thảo quốc tế về Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Nxb. Khoa học xã hội, H, 1990, tr.121.
(13) Bác Hồ ở Pháp, Nxb. Văn học, H, 1970, tr.66-75.
(14) Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb. Sự thật,
H,1976, tr.447-450.