Trải qua những thăng trầm của lịch sử và tác động của
bối cảnh hiện tại, lễ hội truyền thống đã có nhiều thay đổi. Những vấn đề quản
lý lễ hội truyền thống, vì vậy, cũng cần được giải quyết từ những cách tiếp cận
mới.
Màn Sử thi mùa Xuân Kỷ Dậu 1789 do
các nghệ sỹ Nhà hát Tuồng Trung ương biểu diễn tại Lễ hội kỷ niệm 235 năm Chiến
thắng Ngọc Hồi - Đống Đa
NHỮNG XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
Vấn đề thương mại hóa thái quá trong việc tổ chức các lễ hội
truyền thống.
Lý do chính của thực trạng này là việc chạy theo lợi nhuận mà bất
chấp những hậu quả tiêu cực có thể tác động đến lễ hội - với tư cách là một
hiện tượng văn hóa - tín ngưỡng. Chẳng hạn như nhiều người lợi dụng lễ hội
truyền thống để “kiếm lời bằng mọi giá” từ các loại hình dịch vụ ăn theo như
ăn, nghỉ, bán hàng với giá “cắt cổ”, quảng cáo “trên giời”, “buôn thần bán
thánh”... Thực trạng này không chỉ tồn tại ở các lễ hội quy mô lớn mà còn len
lỏi đến cả lễ hội ở các vùng quê. Những năm gần đây, lễ hội diễn ra cùng với cơ
chế thị trường nên việc kinh doanh càng lộ rõ, khó chấp nhận, lại được thả nổi
ở nhiều nơi. Tuy không công khai, nhưng có địa phương đã cho “thầu” cả chùa, cả
đền, cả từng phần của dịch vụ lễ hội. Hội Lim trước kia đã từng là một ví dụ điển
hình khác về tình trạng này với việc hát quan họ, mời trầu cau thu tiền. Tình
trạng thương mại hóa thái quá lễ hội không chỉ dừng ở Hội Lim, mà còn tồn tại ở
hầu hết các lễ hội truyền thống ở các quy mô khác nhau, và ảnh hưởng cũng khác
nhau.
Thực ra, thương mại hóa lễ hội chưa hẳn đã trở thành “vấn đề” đối
với việc quản lý lễ hội nếu nó không vượt ngưỡng một cách thái quá. Lễ hội cũng
như mọi hoạt động của đời sống xã hội đang vận hành trong nền kinh tế thị
trường, vì thế, những ảnh hưởng của kinh tế thị trường đối với lễ hội là không
thể tránh khỏi. Vấn đề chỉ nghiêm trọng khi bị “biến tướng” và thái quá, vượt
xa ý nghĩa tốt đẹp của việc tổ chức các lễ hội truyền thống.
Chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa khuyến khích các thành
phần kinh tế tham gia công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị di tích, lễ hội.
Tuy nhiên, huy động nguồn lực kinh tế từ mọi thành phần trong xã hội không đồng
nghĩa với việc các lễ hội truyền thống bị biến dạng, không giữ được bản sắc vốn
có.
Mê tín dị đoan, đốt vàng mã tràn lan diễn ra ở hầu hết các lễ hội,
ở mọi quy mô lớn nhỏ khác nhau.
Cần nhấn mạnh, trong việc quản lý lễ hội truyền thống, vấn đề hạn
chế mê tín dị đoan sẽ luôn cần phải đặt ra. Tuy nhiên, thực tiễn trong những
năm qua, tệ nạn mê tín dị đoan không những không biến mất mà ngày càng trở nên
trầm trọng hơn. Trong báo cáo của ngành Văn hóa về tình hình tổ chức lễ hội,
vấn đề này được tiếp tục nhắc đến với các hiện tượng lạm dụng tín ngưỡng để
hành nghề mê tín dị đoan như xóc thẻ, lên đồng, bói toán...
Nhà nước đã có những chế tài nhất định như trong Nghị
định 38/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
văn hóa và quảng cáo. Điều 14 của Nghị định đã có những quy định xử lý vi phạm
trong tổ chức lễ hội. Chẳng hạn như, phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng
đối với một trong các hành vi lợi dụng hoạt động tổ chức lễ hội để trục lợi,
hoặc tham gia hoạt động mê tín dị đoan trong lễ hội. Điểm a, Khoản 2 và Khoản 4
Điều 15 Nghị định 158/2013/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu
đồng đối với hành vi lợi dụng hoạt động lên đồng, xem bói, gọi hồn, xin xăm,
xóc thẻ, yểm bùa, phù chú, truyền bá sấm trạng và các hình thức tương tự khác
để trục lợi. Thậm chí, hoạt động mê tín dị đoan còn có thể bị truy cứu trách
nhiệm hình sự nếu người vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý hành
chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn
vi phạm... Dù vậy, những hành vi vi phạm vẫn xảy ra vì đây là những vấn đề rất
khó giải quyết khi tín ngưỡng, tâm linh là những vấn đề hết sức nhạy cảm, liên
quan đến nhu cầu cá nhân của người dân, ranh giới giữa thực hành tín ngưỡng và
mê tín dị đoan cũng rất mong manh. Tất cả khiến cho chính quyền địa phương, dù
có nhiều cố gắng, nhưng khó có thể giải quyết triệt để được.
Một số hủ tục phục hồi cùng với sự phục hồi của các lễ
hội truyền thống.
Lễ hội truyền thống được mở đồng nghĩa với việc người dân có những
ngày nghỉ ngơi, tham gia các sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Đây cũng là dịp để
nhiều hủ tục có không gian và thời gian trỗi dậy. Do hình thức tổ chức khá đặc
biệt vốn có từ xưa, nên mỗi dịp mở hội hiện nay, ý thức phường hội, phe giáp
đình đám nảy sinh. Nạn cờ bạc, hút xách, chè chén phung phí, tệ mê tín dị đoan
được dịp hoạt động. Trong không khí cởi mở của hội lễ, dễ có tâm lý hoà đồng,
nhìn mọi sự việc bằng con mắt ưu ái, coi như không có hại, nhưng chính điều đó
đang là loại “dịch vụ ăn khách” làm vẩn đục bầu không khí trong lành của ngày
hội và ảnh hưởng đến tâm lý và cuộc sống của từng người trong xã hội. Xóc thẻ,
viết sớ, đánh bạc công khai là những hiện tượng có nhiều ở một số lễ hội…
Việc tu bổ di tích được thực hiện một cách sơ sài, làm biến dạng
di tích. Cảnh quan xung quanh di tích bị xâm hại. Không gian mở hội cũng bị
biến đổi và thu hẹp rất nhiều.
Việc phục dựng các di tích với mục đích lấy lại hình dáng và không
gian ban đầu không đơn giản. Một số di tích được xây dựng đã phá vỡ cảnh quan
di tích, lấn át di tích gốc; gây ra những tranh cãi trong việc phục hồi khi sử
dụng những chất liệu xây dựng mới, hệ thống trang thiết bị mới cho các di tích,
đặc biệt ở các di tích lớn. Lý do của thực trạng này có nhiều, nhưng đáng kể
nhất có thể do trình độ nhận thức còn yếu và chưa đồng đều dẫn đến việc không
thể hiện hết ý tưởng nghệ thuật - tôn giáo của người xưa trong việc xây dựng di
tích; chưa có sự thống nhất của cán bộ ngành văn hóa trong việc trùng tu, tôn
tạo di tích đã khiến cho mỗi nơi trùng tu, tu bổ di tích theo những kiểu khác
nhau; và chưa có những quy hoạch tổng thể cho các vấn đề kết cấu hạ tầng, kinh
tế - xã hội, môi trường cảnh quan, dịch vụ du lịch,... cho di tích nói chung và
lễ hội đi kèm với di tích nói riêng.
Ngoài ra, không gian di tích cũng ngày càng bị thu hẹp do tốc độ
đô thị hóa đang lan dần về nông thôn. Đã không ít bài báo kêu ca về việc các di
tích bị các hộ dân lấn chiếm làm đất ở, các cơ quan nhà nước xâm phạm phạm vi
bảo vệ di tích. Bên cạnh đó, nhiều nơi sau mỗi lần tổ chức lễ hội thì di tích
lại bị xâm hại, cảnh quan môi trường bị phá huỷ...
Việc phục hồi và tổ chức lễ hội diễn ra một cách lộn xộn, bắt
chước máy móc, không theo quy củ.
Trong việc phục hồi và phát huy lễ hội truyền thống hiện nay, dưới
danh nghĩa là đổi mới lễ hội, gắn lễ hội với giáo dục truyền thống, gắn lễ hội
với du lịch..., không ít nơi, với những mức độ khác nhau, đang diễn ra xu hướng
áp đặt một số mô hình định sẵn, làm cho tính chủ động, sáng tạo của người dân
bị suy giảm, thậm chí người dân còn bị gạt ra ngoài sinh hoạt văn hóa vốn là
của dân, do dân và vì dân. Chính xu hướng này khiến cho lễ hội mang nặng tính
hình thức, phô trương, “giả tạo”, mà hệ quả là vừa tác động tiêu cực tới chủ
thể văn hóa, vừa khiến cho du khách hiểu sai lệch về nền văn hóa dân tộc.
Tệ nạn xã hội và các dịch vụ ăn theo lễ hội khác nảy sinh.
Hầu hết các lễ hội truyền thống hiện nay không chỉ “bó gọn” trong
phạm vi một làng, một địa bàn cư trú nhỏ hẹp. Với nhiều lễ hội, đa số người đến
dự là du khách thập phương. Tính vô danh của người đi lễ - tức là những người
đi hội không biết mặt nhau, danh tính của nhau - cộng với ý nghĩa tâm linh ít
nhiều phai nhạt trong tâm niệm của người đi hội, thay vào đó các lễ hội truyền
thống được xem như một trò vui hay một đám đông người đã khiến cho lễ hội nhiều
khi bị “trần tục hoá”. Chính vì lẽ đó, việc “buôn thần, bán thánh”, thương mại
hóa lễ hội trở nên phổ biến. Không những thế, những tệ nạn xã hội bắt đầu len
lỏi vào các lễ hội truyền thống, đặc biệt là những lễ hội lớn ở quy mô cấp
vùng, cấp quốc gia. Ngoài việc ép giá, việc du khách tập trung quá đông ở một
địa điểm cũng gây ra tình trạng trộm cắp, móc túi, ăn xin và kể cả tệ nạn mại
dâm, nghiện hút. Bên cạnh đó là các dịch vụ đi kèm có ảnh hưởng tiêu cực đến sự
phát triển của lễ hội khác như khấn thuê, đổi tiền lẻ với giá cao, đánh bạc trá
hình, các trò chơi điện tử không phù hợp...
Những vấn đề xã hội mới nảy sinh.
Khi các lễ hội truyền thống được tổ chức, hàng loạt vấn đề cũng
được đặt ra đối với cơ quan quản lý văn hóa - xã hội của địa phương như đảm bảo
giao thông, y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, hướng dẫn tham quan, duy trì an
ninh trật tự của địa phương… Đây đều là mối lo chung của nhiều ban, ngành địa
phương. Tuỳ mức độ của mỗi lễ hội mà các vấn đề này cần sự lưu tâm ở các mức độ
khác nhau.
Bệnh phô trương hình thức trong việc tổ chức các lễ hội là một
trong những vấn đề xã hội đáng lưu tâm trong thời gian vừa qua. Thực ra đây
không phải là vấn đề hoàn toàn mới. Dù “Trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng
nào làng ấy thờ”, song việc so sánh lễ hội làng này với lễ hội làng khác vẫn
tồn tại từ lâu. Tuy nhiên, ngày nay, việc so sánh giữa lễ hội làng này với lễ
hội làng khác đã có những nội dung mới. Thực tế đã có chuyện không ít phương
cấp làng, xã cố gắng “tìm kiếm” bằng được Bằng Di tích Lịch sử - Văn hóa của
tỉnh, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để tổ chức hội cho to, quyên góp quá
nhiều tiền của người dân để tổ chức hội càng ngày càng to, và quan trọng là
phải “to hơn làng bên cạnh”.
Ngoài ra, có một vấn đề khác đang tồn tại là: các lễ hội được tổ
chức liên tục chủ yếu trong thời gian mùa xuân đã kéo theo việc nhiều cán bộ
công chức, viên chức bỏ bê công việc, dùng xe công để đi lễ hội. Tình trạng
“Tháng giêng là tháng ăn chơi” lại được “vận dụng” trở lại trong những năm gần
đây đã ít nhiều tác động tiêu cực đối với các sinh hoạt bình thường của xã hội.
GIẢI PHÁP QUẢN LÝ LỄ HỘI TRONG THỜI GIAN TỚI
Để giữ gìn bản sắc văn hóa, đảm bảo an toàn, trật tự xã hội trong
việc tổ chức và quản lý lễ hội, xin đề xuất một số biện pháp cụ thể như sau:
Một là, quy hoạch
phát triển lễ hội phải đặt trong quy hoạch tổng thể với các lĩnh vực kinh tế -
xã hội khác.
Việc tổ chức và quản lý lễ hội có nhiều mục đích khác nhau, không
chỉ riêng mục đích thuần tuý văn hóa. Bên cạnh đó, việc phát triển, tổ chức và
quản lý lễ hội không thể tiến hành một cách riêng rẽ mà nhất thiết phải được
gắn với quy hoạch phát triển của các lĩnh vực khác như du lịch, giao thông,
phát triển hạ tầng điện, nước… Chỉ có như vậy mới có thể thấy các mục đích khác
nhau của việc quản lý lễ hội, thấy được những ưu tiên cho phát triển, các nguồn
lực bên ngoài cũng như bên trong, dự đoán trước những thay đổi không chỉ trong
lĩnh vực văn hóa mà còn cả các lĩnh vực khác.
Hai là, tăng cường sự phối hợp liên ngành trong quản lý lễ hội.
Nếu chúng ta chỉ nhìn lễ hội truyền thống như một hiện tượng văn
hóa đơn thuần và giao phó toàn bộ công việc quản lý lễ hội cho ngành văn hóa
thì các công cụ quản lý sẽ không đủ mạnh để có thể phát huy những mặt tích cực,
hạn chế những mặt tiêu cực. Vì việc tổ chức lễ hội mang tính đa nghĩa và ảnh hưởng
đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội nên cần chú trọng tăng cường
sự phối hợp liên ngành trong quản lý lễ hội.
Ba là, thực hiện nghiên cứu, thống
kê và phân loại lễ hội của từng tỉnh, từng vùng, cả nước để có biện pháp quản
lý phù hợp.
Một nghiên cứu tổng thể, phân loại, xây dựng bản đồ những lễ hội ở
các địa phương có tác dụng tốt trong việc nắm bắt thực trạng, điểm mạnh, điểm
yếu của các lễ hội ở địa phương. Qua đó, có thể có các kế hoạch quản lý, định
hướng phục hồi lễ hội theo hướng bổ sung những tiêu chí cụ thể để nâng cấp từng
lễ hội và toàn bộ các lễ hội.
Bốn là, nâng cao
hơn nữa vai trò quản lý lễ hội của người dân, đặc biệt trong các lễ hội quy mô
vùng, quốc gia bằng cách đưa các đại diện địa phương vào ban tổ chức lễ hội.
Việc tổ chức lễ hội ở cấp làng, vùng hay quốc gia đều cần nhấn
mạnh đến vai trò của người dân địa phương. Ngoài việc tham gia vào nhiều khâu
tổ chức lễ hội quan trọng, chính người dân địa phương góp phần làm tăng tính
chân thực cho di sản, bên cạnh đó cũng góp phần vào thực hiện chủ trương xã hội
hoá các hoạt động văn hóa nói chung, lễ hội nói riêng. Khi việc xã hội hoá được
thực hiện tốt, vai trò của cộng đồng được nâng cao thì sự tự quản cộng đồng sẽ
là một biện pháp quản lý hết sức hữu hiệu. “Người trong cuộc” sẽ tự nhắc nhở,
quản lý lẫn nhau một cách tự giác, nghiêm túc; quyền lợi của cá nhân và cộng
đồng sẽ gắn bó chặt chẽ hơn.
Hội Lim - lễ hội văn hoá đặc sắc
của Bắc Ninh
Năm là, cần có chính sách điều tiết tài chính giữa lễ hội thu được nhiều
tiền cho các lễ hội ít tiền.
Thực tế cho thấy, nhiều lễ hội lớn thu được rất nhiều tiền công
đức, trong khi các lễ hội nhỏ, quy mô làng, xã thu được ít tiền công đức, không
đủ để tái đầu tư tu bổ di tích. Nguyên tắc tài chính không cho phép lấy tiền
công đức của di tích này chi cho các di tích khác, tuy nhiên, ở bình diện vĩ
mô, cơ quan chức năng và Nhà nước cần nghiên cứu, có chính sách, cách thức đầu
tư để làm hài hoà nghịch lý này, bằng cách đầu tư cho các lễ hội, di tích nhỏ,
có khả năng thu kém, trong khi trao quyền tự chủ cho ban quản lý các lễ hội, di
tích lớn.
Sáu là, tổ chức
các sinh hoạt văn hóa - thể thao, hội chợ cùng với việc tổ chức lễ hội.
Cần xác định rằng, lễ hội là một sự kiện đa lợi ích, vừa là cơ hội
để đoàn kết cộng đồng, giáo dục lịch sử, vừa là cơ hội để phát triển kinh tế,
quảng bá hình ảnh cộng đồng. Hơn thế nữa, người tham dự lễ hội cũng có rất
nhiều nhu cầu khác nhau. Ngành văn hóa cần định hướng nhu cầu của người dân vào
những hoạt động lành mạnh. Chính vì vậy, việc tổ chức các sinh hoạt văn hóa - thể
thao, mở các hội chợ giới thiệu sản phẩm địa phương cần phải được xem như một
trong những mục đích quan trọng của việc tổ chức lễ hội. Điều này không chỉ
định hướng được nhu cầu của khách tham dự lễ hội mà còn phát huy được tác dụng
của lễ hội đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa của địa
phương.
Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được, việc tổ chức, quản
lý, phục hồi lễ hội truyền thống cũng còn không ít vấn đề bất cập, trong đó có
những vấn đề phát sinh gắn với bối cảnh, tình hình mới, chưa được lường trước.
Tuy nhiên, điều quan trọng mà chúng ta phải nhấn mạnh là, lễ hội truyền thống
không thể mất đi theo thời gian và có những vai trò nhất định trong sinh hoạt
văn hóa của người mỗi cộng đồng dân cư; có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội - chính trị của mỗi địa phương, khu vực và cả nước. Do sự tồn tại
của lễ hội như một chức năng cần thiết cho xã hội hiện tại, nên điều cần bàn và
cần làm là phải không ngừng bổ sung, hoàn thiện những biện pháp, cách thức quản
lý lễ hội phù hợp với xu thế chung; đồng thời không làm ảnh hưởng dẫn đến sự
“biến mất” của lễ hội với tư cách là một di sản do cha ông để lại./.
Dù có những ý kiến cho rằng, xã hội hiện đại với nhịp sống
hối hả không còn phù hợp cho việc tổ chức các lễ hội truyền thống, các lễ hội
này sẽ “phôi phai” theo thời gian thì thực tế trong những năm gần đây, các lễ
hội truyền thống ngày càng được tổ chức nhiều hơn, quy mô lớn hơn; có tác động
đến nhiều tầng lớp nhân dân ở cả nông thôn và thành thị. Do tầm quan trọng của
lễ hội truyền thống đối với đời sống xã hội, nhất thiết cần có những biện pháp
quản lý hữu hiệu và khả thi đối với hiện tượng xã hội này.