Phát huy năng lực của phụ nữ trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia
Chuyển đổi số đang là xu thế tất yếu, có vai trò quan
trọng trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Chuyển đổi số cũng là
công cụ đắc lực để giải phóng phụ nữ, nâng cao vị thế, phát huy và kế thừa
truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam trong quá trình đổi mới và phát triển
đất nước.
Ảnh minh họa.
“PHỤ NỮ TA CHẲNG TẦM THƯỜNG...”
Ở bất cứ thời kỳ nào, phụ nữ Việt Nam cũng luôn mang
trong mình những nguồn năng lượng to lớn, tạo nên sức mạnh vĩ đại, góp phần xây
dựng, bảo vệ non sông gấm vóc của Tổ quốc. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức
dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ”(1); “Phụ nữ ta chẳng tầm thường/
Ðánh Ðông, dẹp Bắc làm gương để đời”(2). Người cũng nhấn mạnh, sự
nghiệp giải phóng phụ nữ phải luôn gắn liền với giải phóng loài người, giải
phóng xã hội và giải phóng dân tộc: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải
phóng một nửa loài người”, “nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa
được giải phóng”.
Cũng từ quan điểm đó mà những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh
cho Đảng và nhân dân ta luôn có sự gắn kết giữa sự nghiệp giải phóng phụ nữ và
công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH): “Nếu không giải phóng phụ nữ thì
xây dựng CNXH mới chỉ một nửa”, “muốn xây dựng CNXH, nhất định phải sản xuất ra
cho thật nhiều của cải, mà muốn sản xuất ra nhiều của cải phải có nhiều sức lao
động, muốn có nhiều sức lao động phải giải phóng lao động của phụ nữ”, “để xây
dựng CNXH thì phải thực sự giải phóng phụ nữ và tôn trọng quyền lợi của phụ
nữ”. Tư tưởng về giải phóng phụ nữ của Hồ Chí Minh có xuất phát sâu sắc từ nhận
thức, hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lê nin cũng như vai trò của phụ nữ trong
lịch sử loài người.
Trong Di chúc, Hồ Chí
Minh cũng đã nhấn mạnh: “Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta
đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần
phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm
nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ
phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho
phụ nữ”. Đồng thời, Người chỉ rõ: “Dưới CNXH, chủ nghĩa cộng sản, người phụ nữ
dũng cảm có thể hoàn thành mọi nhiệm vụ của người đàn ông dũng cảm có thể làm,
dù nhiệm vụ ấy đòi hỏi rất nhiều tài năng và nghị lực”. Phát biểu tại Lễ kỷ
niệm lần thứ 20 Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (19/10/1966), Hồ
Chí Minh đã nhắc đến truyền thống yêu nước đầy tự hào của người phụ nữ Việt
Nam: Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc, cứu
dân cho đến ngày nay mỗi khi nước nhà gặp nguy nan, thì phụ nữ ta đều hăng hái
đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Do đó,
ta có câu tục ngữ rất hùng hồn: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.
Trong suốt chiều dài lịch sử
dựng nước, giữ nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam
đã để lại những dấu ấn tốt đẹp trong lòng bạn bè thế giới. Không chỉ đẹp ở
thiên chức làm vợ, làm mẹ mà còn luôn xứng đáng với tám chữ vàng mà chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khen tặng: “Anh hùng - Bất khuất - Trung hậu - Đảm đang”.
Không chỉ đánh giá cao vai trò phụ nữ, Hồ Chí Minh còn
hiểu rất rõ năng lực, tiềm năng của phụ nữ Việt Nam. Người nói: “Từ ngày nước
ta được giải phóng đến nay, phụ nữ đều tiến bộ rõ về mọi mặt chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội. Nhưng một tiến bộ rõ rệt nhất là phụ nữ ta hiện nay tham
gia chính quyền ngày càng nhiều”. Người khẳng định toàn Đảng, Nhà nước, tổ chức
xã hội “phải kính trọng phụ nữ”, “phải thật sự bảo đảm quyền lợi của phụ nữ”,
“phải có phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ”.
Theo Người, muốn có sự bình đẳng thật sự đối với phụ nữ thì không chỉ trông chờ
vào người khác mà “bản thân phụ nữ phải cố gắng vươn lên. Đó là cuộc cách mạng
đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ”.
Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930, Đảng ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định quan điểm “Nam, nữ bình quyền”. Trong hơn
94 năm qua, quan điểm đó luôn được quán triệt trong các Văn kiện, Chỉ thị, Nghị
quyết của Đảng qua các thời kỳ. Nghị quyết Đại hội IX của Đảng chỉ rõ: “Đối với
phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào
tạo nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia
ngày càng nhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành, chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt
thiên chức người mẹ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”.
Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định: “Nâng cao trình độ mọi mặt
và đời sống vật chất, tinh thần thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ
nữ thực hiện tốt vai trò của người công dân, người lao động, người mẹ, người
thày đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng
nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp. Chăm
sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về
bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên
quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc
phạm nhân phẩm phụ nữ”.
Tại Đại hội XIII của Đảng, Báo cáo chính trị nêu rõ:
“Phát huy truyền thống, tiềm năng, thế mạnh và tinh thần làm chủ, khát vọng
vươn lên của các tầng lớp phụ nữ. Xây dựng người phụ nữ Việt Nam thời đại mới.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và
hội nhập quốc tế. Tăng cường các chương trình phát triển, hỗ trợ cập nhật tri
thức, kỹ năng cho phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
miền núi. Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách liên quan đến phụ
nữ, trẻ em và bình đẳng giới. Kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật các tệ nạn
xã hội, các hành vi bạo lực, mua bán, xâm hại phụ nữ, trẻ em”(3).
Đây chính là sự tiếp nối, phát triển quan điểm của Đảng về phụ nữ và công tác
phụ nữ trong các kỳ đại hội trước, thể hiện rõ sự tin tưởng của Đảng, Nhà nước
đối với lực lượng này; đồng thời, khẳng định sự quan tâm, trách nhiệm cũng như
những nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra để giải quyết các vấn đề về công tác
phụ nữ trong giai đoạn hiện nay.
Trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực
hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, thực hiện
lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tầng lớp phụ nữ trên khắp mọi miền đất
nước đã đoàn kết, phấn đấu, năng động, sáng tạo phát huy sức mạnh nội lực, giá
trị truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam, chủ động, tự tin, đóng
góp quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần thực hiện thắng
lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong vai trò người
vợ, người mẹ, với tấm lòng thủy chung, nhân hậu, phụ nữ đã cùng nam giới xây
dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho đất
nước. Nhờ sự nỗ lực bền bỉ, vượt lên trên mọi khó khăn, thách thức và định kiến
giới, vị trí, vai trò của người phu nữ Việt Nam ngày càng được khẳng định và
đóng góp to lớn trong đời sống chính trị, văn hóa, xã hội.
PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA PHỤ NỮ TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA
Trong thời gian qua, phụ nữ Việt Nam luôn là lực lượng có đóng góp
rất lớn vào quá trình phát triển đất nước, tiêu biểu là tỷ lệ nữ tham gia lực
lượng lao động đạt 78,2% so với nam giới là 86%, trong đó có một số lĩnh vực
trước đây chỉ dành cho nam giới(4). Địa vị, trình độ học vấn, kỹ
năng nghề nghiệp của phụ nữ ngày càng được nâng cao, đời sống vật chất, tinh
thần ngày càng được cải thiện. Bình đẳng giới được Đảng và Nhà nước quan
tâm và được Liên hợp quốc đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các mục tiêu
thiên niên kỷ.
Việt Nam hiện dẫn đầu các nước châu Á và trên thế giới về tỷ lệ nữ
tham gia Quốc hội (khóa IX: 18,5%, khóa X: 26,22%, khóa XI: 27,31%, khóa XII:
25,76%, khóa XIII: 24,4%, khóa XIV: 27.6 , khóa XV: 30.26% ). Đây là con số
minh chứng hiệu quả của các chính sách tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển,
hướng tới sự bình đẳng thực chất.
Thế giới đang trải qua những diễn biến rất
phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo. Tuy nhiên, điều đó không làm mờ đi
các xu thế lớn của thời đại, đó là toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, hợp tác và
phát triển. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đã và đang mở ra
những cơ hội to lớn để phát triển nhanh nhưng cũng đi kèm với những thách thức,
rủi ro chưa có tiền lệ đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Sớm nhận diện được thời cơ và thách thức do cuộc Cách
mạng 4.0 đem lại, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW
ngày 27/9/2019 về “Một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia
cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (Nghị quyết số 52). Tiếp đó, Chính
phủ đã ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch như Nghị quyết số
50/NQ-CP về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52; Quyết định
số 749/QĐ-TTg, ban hành Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định
hướng đến năm 2030; Quyết định số 942/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển
Chính phủ điện tử hướng đến Chính phủ số giai đoạn 2021-2025, định hướng đến
năm 2030; mới đây là Quyết định số 411/QĐ-TTg, ngày 31/3/2022, phê
duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định
hướng đến năm 2030. Các nghị quyết, chương trình, kế hoạch đều
xác định tận dụng có hiệu quả những cơ hội, giảm thiểu rủi ro mà
cuộc Cách mạng 4.0 đem lại, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội nhanh và bền vững.
Các hoạt động của phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh mới đang ngày
càng được khẳng định. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tỷ lệ tham gia của
lao động nữ quý I năm 2023 là 62,9%, như vậy đóng góp về lực lượng lao động
trong các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội nói chung và chuyển đổi số nói
riêng sẽ có tỷ lệ tương ứng. Điều này càng khẳng định và phù hợp với chủ đề
toàn cầu của Ngày Quốc tế phụ nữ “DigitALL: Đổi mới và công nghệ vì bình đẳng
giới” và hướng ứng chủ đề của Khóa họp lần thứ 67 của Ủy ban Địa vị Phụ nữ Liên
hợp quốc (CSW67) “Đổi mới, công nghệ và giáo dục trong thời đại kỹ thuật số để
đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái”. Các
hoạt động này đã ghi nhận, tôn vinh những đóng góp của phụ nữ trong đổi mới,
công nghệ và giáo dục số; đồng thời xác định những tác động của chuyển đổi số
đối với vấn đề gia tăng bất bình đẳng giới, bất bình đẳng về kinh tế, xã hội.
Đối với phụ nữ, chuyển đổi số có vị trí rất quan trọng trong cuộc
sống. Khi ứng dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật, thành tựu của chuyển đổi
số sẽ góp phần nâng cao chất lượng của người dân nói chung, phụ nữ nói riêng,
giúp họ có thể tiếp cận tới công nghệ mới, giảm bớt áp lực công việc và việc
làm, có khả năng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cũng như cơ hội phát
triển nghề nghiệp. Tuy nhiên, còn đó những khó khăn và thách thức như: các mối
quan hệ mới chưa có tiền lệ sẽ phát sinh, những mối quan hệ truyền thống bị
thay đổi hoặc chấm dứt, nguồn nhân lực không kịp đào tạo lại để đáp ứng các yêu
cầu mới, an toàn, an ninh và quyền riêng tư bị xâm phạm và có thể làm gia tăng
khoảng cách giới trong một số lĩnh vực. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam, đa phần
phụ nữ làm việc trong lĩnh vực công nghệ mới chỉ đảm nhận các vị trí như kiểm
tra, thử nghiệm, bán hàng, marketing, nhân sự... Có nhiều lý do dẫn đến việc tỷ
lệ phụ nữ làm việc trong lĩnh vực này còn hạn chế, như còn thiếu các chính sách
và chương trình thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực công nghệ và vẫn
còn nhiều định kiến giới về phụ nữ và công nghệ. Bên cạnh đó, rào cản về chuẩn
mực xã hội và kỳ vọng về vai trò của phụ nữ trong gia đình đã và đang là các
rào cản đối với phụ nữ tiếp cận tới công nghệ số trong khi công nghệ số đã và
đang thay đổi mô hình, tác phong làm việc. Một số khu vực việc làm sẽ cần ít
lao động hơn dẫn tới lao động nữ bị ảnh hưởng nhiều hơn, phụ nữ cũng là nhóm
đối tượng dễ bị ảnh hưởng và dễ bị lạm dụng trên không gian mạng. Làm thế nào
để phá bỏ rào cản và trao quyền cho phụ nữ một cách toàn diện cũng là thách
thức đối với nhiều cơ quan, tổ chức hiện nay.
Trong thời gian tới, toàn cầu hóa tiếp tục diễn ra
mạnh mẽ dưới tác động của công nghệ số. Điều này sẽ làm cho hoạt động thúc đẩy
bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ ngày càng trở thành mối quan tâm hàng
đầu của mỗi quốc gia. Theo đó, xin gợi mở một số giải pháp nhằm góp phần xây dựng
người phụ nữ Việt Nam phát triển, hội nhập, “tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm
đang”, phù hợp với yêu của giai đoạn cách mạng mới.
Thứ nhất, cần tiếp tục,
xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước đối với phụ nữ và phong trào phụ nữ. Tập trung hoàn thiện và thực
hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng người phụ nữ Việt Nam phát triển, hội
nhập với những giá trị thời đại gắn với giá trị truyền thống: yêu nước, đoàn
kết, trung hậu, đảm đang, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, sáng
tạo và phát triển toàn diện.
Thứ hai, nâng cao nhận
thức về các cơ hội giáo dục và xóa bỏ khuôn mẫu giới trong các chương trình
giảng dạy, định hướng nghề nghiệp. Tăng cường giáo dục có chất lựng cho phụ nữ,
dự đoán nhu cầu công việc và kỹ năng cần có trong tương lai để cung cấp cho phụ
nữ những thông tin đầy đủ, phù hợp nhất trong bối cảnh mới. Khuyến khích các
tầng lớp phụ nữ chủ động học tập, nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ để đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của tiến trình chuyển đổi số quốc gia và hội nhập
quốc tế.
Thứ ba, thực hiện giảm
khoảng cách giới, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa và các vùng đặc biệt khó khăn.
Vấn đề tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản của phụ nữ nông thôn, vùng
dân tộc thiểu số còn hạn chế, nhận thức của cả nam và nữ về chăm sóc sức khoẻ
sinh sản còn nhiều bất cập. Để rút ngắn khoảng cách về bình đẳng giới, công
nghệ có thể được coi như một cầu nối để phụ nữ trau dồi kiến thức, hòa nhập với
lợi ích tập thể, cá nhân và gia đình. Bên cạnh đó, cần có sự hỗ trợ các nhóm
phụ nữ yếu thế, đặc thù...
Thứ tư, chú trọng hơn
nữa công tác cán bộ nữ theo hướng ngày càng hiện đại, phát triển và đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Từ Trung ương đến địa phương cần có sự quan
tâm thấu đáo, có trọng tâm, trọng điểm đối với công tác quy hoạch cán bộ nữ.
Cần xác định việc tạo điều kiện cho phụ nữ có thể tham gia các công tác lãnh
đạo, quản lý là trách nhiệm và công việc quan trọng của Đảng và Nhà nước, các
ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương để phát huy tinh thần làm chủ, tiềm
năng, sức sáng tạo của phụ nữ.
Thứ năm, tăng cường
nghiên cứu, đề xuất chính sách an sinh xã hội, các chương trình, đề án, kế
hoạch cụ thể hỗ trợ nhóm phụ nữ yếu thế, cao tuổi, lao động nữ di cư. Tiếp tục
triển khai có hiệu quả Chương trình đồng hành cùng phụ nữ biên cương; thực hiện
Dự án “Thực hiện bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết đối với
phụ nữ và trẻ em” giai đoạn 2021-2025, góp phần thực hiện hiệu quả Chương trình
Mục tiêu quốc gia “Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi
giai đoạn 2021-2030”.
Thứ sáu, tiếp tục đẩy
mạnh tuyên truyền, giáo dục truyền thống, phẩm chất đạo đức cho hội viên của
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; tiếp tục phát huy vai trò, vị trí của Hội nhằm
khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc và ý
chí vươn lên cùng khát vọng bảo vệ và xây dựng đất nước thịnh vường, hùng
cường, hội nhập quốc tế./.
Trước cơ hội đi liền thách thức của quá trình chuyển đổi số và
toàn cầu hóa, phụ nữ Việt nam ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tham
gia tích cực vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội, ngay cả những lĩnh vực lâu nay
được coi là thế mạnh riêng của nam giới như khoa học kỹ thuật, thể dục thể
thao, tham gia các sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc...
(1) Hồ Chí Minh: Toàn
tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2009, t.6, tr.432.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.222.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, t.I,
tr.169.
(4)https://mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-tin?dDocName=BTC332822