1. Sự lựa chọn con
đường cách mạng đúng đắn của Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng cho thắng lợi lịch sử
Sau khi chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước, với khát vọng
cháy bỏng, Nguyễn Tất Thành quyết định đi sang các nước phương Tây để xem xét, nghiên cứu
kinh nghiệm các cuộc cách mạng trên thế giới. Sau khi nghiên cứu, so sánh giữa
các cuộc cách mạng tư sản điển hình như cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ với cách
mạng Tháng Mười Nga, Người khẳng định các cuộc cách mạng tư sản là những cuộc
cách mạng “không đến nơi”, không giải phóng triệt để con người. Theo Người, chỉ
có Cách mạng Tháng Mười Nga “là đã thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là
dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và
bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam”.
Với trí tuệ mẫn tiệp và sự nhạy bén về chính trị sắc sảo, Nguyễn Tất Thành đã
tiếp thu chủ nghĩa Mác -
Lênin khi lần đầu tiên đọc
được Luận cương của Lênin về vấn
đề dân tộc và thuộc địa. Người đã tìm thấy từ Luận cương của Lênin con đường cứu
nước chân chính - con đường cách mạng vô sản. Với sự xúc động, phấn khởi và vui
sướng, Người đã reo lên: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường
giải phóng chúng ta”.
Để tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo
con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc xác định nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
là phải thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã khẳng định, cách mạng trước hết “phải có đảng cách mệnh, để trong
thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và
vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người
cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Từ
nhận thức đó, Người đã tích cực chuẩn bị về mọi mặt để tiến tới thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Sau quá trình chuẩn bị, từ ngày 06/01 đến ngày 07/02 năm 1930, tại Hương Cảng
(Hồng Kông), Trung Quốc, Hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản
Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách
lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng. Từ đây, nước ta
đã có đường lối, phương pháp và lực lượng lãnh đạo cách mạng mới, chấm dứt sự
khủng hoảng về con đường cứu nước kéo dài nhiều thập kỷ.
2. Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 - thắng lợi của sự chuẩn bị toàn diện và nghệ thuật
lãnh đạo cách mạng
Cách mạng Tháng Tám diễn ra trong
thời gian ngắn nhưng là kết quả của quá trình chuẩn bị lâu dài, có hệ thống và
khoa học. Trong suốt 15 năm kể từ khi Đảng ra đời, cách mạng Việt Nam đã trải
qua nhiều cao trào đấu tranh, từng bước tích lũy lực lượng và kinh nghiệm, tạo
tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Thắng lợi ấy được thể hiện
thông qua vai trò lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta và Chủ tịch
Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, đó là sự lãnh đạo đúng đắn trong
việc chuyển hướng chiến lược cách mạng. Trước những chuyển biến của
tình hình thế giới và trong nước, Đảng ta từng bước điều chỉnh đường lối, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Điểm
nổi bật là tại Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), Hội nghị Trung ương 7 (11/1940) và đặc
biệt Hội nghị Trung ương 8 (5/1941) do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng
chiến lược. Hội nghị Trung ương 8 xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ cấp thiết
nhất của cách mạng Đông Dương; chủ trương thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), xây dựng lực
lượng chính trị và lực lượng vũ trang, chuẩn bị căn cứ địa cách mạng và tiến
tới khởi nghĩa giành chính quyền.
Thứ hai, lãnh đạo xây
dựng lực lượng chính trị rộng lớn của quần chúng. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác
định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, vì vậy đặc biệt coi trọng việc tập hợp, giác ngộ và tổ chức Nhân dân tham gia sự nghiệp cách mạng. Thông
qua Mặt trận Việt Minh, các tổ chức cứu quốc được xây dựng và phát triển rộng
rãi như: Hội Công nhân cứu quốc, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc,
Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ lão cứu quốc... Đồng thời, Đảng đẩy mạnh tuyên truyền, vận động Nhân dân,
xây dựng cơ sở cách mạng ở nông thôn, miền núi, đô thị; từng bước hình thành
một lực lượng chính trị đông đảo, có tổ chức và có ý thức đấu tranh giành chính
quyền.
Thứ ba, lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ
địa cách mạng. Đảng nhận thức rõ muốn tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền phải có lực
lượng vũ trang làm nòng cốt. Đặc biệt, để thành lập lực
lượng vũ trang cách mạng, dưới sự chỉ đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập ngày 22/12/1944 do Đại tướng Võ Nguyên Giáp
làm đội trưởng. Nhờ
đó, các lực lượng vũ trang cách mạng được thống nhất và
phát triển, từng bước trở thành lực lượng nòng cốt hỗ trợ quần chúng nổi dậy
giành chính quyền.
Cùng với xây dựng lực lượng vũ trang,
Đảng ta chú trọng xây dựng căn cứ địa cách
mạng, tiêu biểu là khu căn cứ Cao - Bắc - Lạng và sau đó mở rộng thành
căn cứ địa Việt Bắc. Đây vừa là nơi xây dựng lực lượng, huấn luyện cán bộ, phát
triển phong trào, vừa là địa bàn để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa.
Thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân (22/12/1944).
Thứ tư, lãnh đạo chuẩn bị các điều kiện và hình thức khởi nghĩa. Đảng không chủ quan,
nóng vội mà chủ trương chuẩn bị lâu
dài, từng bước, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, xây
dựng lực lượng từ thấp đến cao. Đặc biệt, sau cuộc
đảo chính Pháp của Nhật ngày 9/3/1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” (12/3/1945). Chỉ thị xác định
kẻ thù chính, cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật; phát động
cao trào “Kháng Nhật cứu nước”,
coi đó là tiền đề trực tiếp để tiến tới tổng khởi nghĩa. Trong đó, Đảng chủ trương phát triển mạnh lực lượng chính
trị và lực lượng vũ trang; mở rộng căn cứ địa cách mạng. Đồng thời, đẩy mạnh
chiến tranh du kích; phát động quần chúng phá kho thóc của Nhật để giải quyết
nạn đói. Tiến hành thành lập và củng cố chính quyền cách mạng ở những nơi có
điều kiện. Đặc biệt, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tích cực chuẩn bị các điều
kiện để khi thời cơ xuất hiện có thể
chuyển nhanh sang tổng khởi nghĩa.
Thứ năm, lãnh đạo nắm bắt và chớp thời cơ cách mạng. Đây là một trong những nhân tố có ý
nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Tháng 8/1945, khi phát xít Nhật đầu
hàng Đồng minh, bộ máy thống trị của Nhật và chính quyền tay sai rơi vào tình
trạng rệu rã cực
độ, trong khi lực lượng cách mạng đã được chuẩn bị tương
đối đầy đủ, Đảng nhận định thời cơ tổng
khởi nghĩa đã chín muồi.
Hội nghị toàn quốc của Đảng tại Tân Trào (14-15/8/1945) quyết định phát động Tổng khởi nghĩa. Ngay
sau đó, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc
ra Quân lệnh số 1, kêu gọi toàn dân đứng lên giành chính quyền. Từ đó, toàn dân ta trong cả nước
đã nhất tề đứng lên giành chính quyền. Hà Nội giành được chính quyền vào ngày
19/8; sau đó, Huế giành được chính quyền vào ngày 23/8; tiếp đến Sài Gòn giành
được chính quyền vào ngày 25/8; từ ngày 26/8 đến ngày 28/8 các địa phương còn lại
đã giành thắng lợi hoàn toàn.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa.
3. Giá trị trường tồn
của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - Ánh sáng soi đường cho hiện tại và tương lai
Thứ
nhất, Cách mạng Tháng Tám trở thành bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân
tộc, mở ra kỷ nguyên mới - kỷ
nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi này đã xóa bỏ hoàn toàn
chế độ thực dân, phong kiến, thiết lập Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Đây là
sự kiện có ý nghĩa lịch sử to lớn, làm thay đổi vận mệnh của dân tộc Việt Nam.
Thứ hai, Cách
mạng Tháng Tám khẳng định sức mạnh của lòng yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc được nâng lên ở tầm cao mới. Một giá trị đặc biệt quan trọng
của Cách mạng Tháng Tám là đã huy động được sức mạnh của đông đảo các tầng lớp Nhân dân dưới ngọn cờ độc lập
dân tộc. Đảng và Mặt trận Việt Minh đã tập hợp công nhân, nông dân, trí thức,
thanh niên, phụ nữ, tiểu thương, đồng bào các dân tộc, các tôn giáo và những
người yêu nước thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau. Vì vậy, khi phân tích thắng
lợi của Cách mạng Tháng Tám, không nên chỉ nhìn từ hoạt động của một tổ chức
chính trị hay một lực lượng vũ trang, mà đó là sự hội
tụ của sức mạnh dân tộc được tổ chức và phát huy cao độ vì một mục tiêu chung: độc lập dân tộc. Đây là
một bài học có giá trị trường
tồn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Thứ ba, khẳng định
vai trò lãnh đạo và năng lực nắm bắt thời cơ cách mạng của Đảng và Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Một trong những giá trị lớn của Cách mạng Tháng Tám là để lại kinh nghiệm
đặc biệt về nhận định tình hình, chuẩn
bị lực lượng, tạo thế và chớp thời cơ. Thắng lợi tháng Tám không phải là kết
quả của một hành động nhất thời. Trước đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
trải qua quá trình chuẩn bị lâu dài về tất cả các điều kiện cho cách mạng nước
ta. Khi Nhật
đầu hàng Đồng minh, bộ máy thống trị của Nhật ở Đông Dương rơi vào khủng hoảng,
Đảng đã nhận định thời cơ xuất hiện và kịp thời phát động Tổng khởi nghĩa và
giành được thắng lợi hoàn toàn.
Thứ tư, Cách mạng Tháng Tám khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh về sử dụng phương pháp cách mạng phù hợp với điều kiện Việt
Nam. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám đã cho thấy khả
năng kết hợp linh hoạt giữa đấu tranh
chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa xây dựng lực lượng với phát triển
phong trào quần chúng, giữa chuẩn bị lâu dài với hành động quyết đoán khi thời
cơ xuất hiện.

Với tầm vóc và ý nghĩa vĩ đại của thắng
lợi Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chẳng những giai
cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những
dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: Lần này là lần đầu tiên
trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới
15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”. Đây
chính là những luận cứ sắc bén để đấu tranh, phản bác các luận điệu, xuyên tạc
của các thế lực thù địch nhằm
hạ thấp giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Tám.
Từ đó khẳng định rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ là một thắng
lợi mang tính bước ngoặt của lịch sử dân tộc, mà còn là minh chứng hùng hồn cho
chân lý về sức mạnh của lòng yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và của
sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ sự lựa chọn
con đường cách mạng phù hợp, quá trình chuẩn bị công phu, đến nghệ thuật chớp
thời cơ, tất cả đã hội tụ tạo nên một thắng lợi vĩ đại, mở ra kỷ nguyên mới cho
dân tộc Việt Nam. Giá trị trường tồn của Cách mạng Tháng Tám không chỉ nằm ở ý
nghĩa lịch sử đã qua, mà còn tiếp tục soi sáng thực tiễn hôm nay: đó là bài học
về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về phát
huy sức mạnh nhân dân; về chủ động nắm bắt thời cơ và vận dụng sáng tạo phương
pháp cách mạng. Chính những giá trị ấy đã, đang và sẽ là nền tảng lý luận và thực
tiễn vững chắc để dân tộc Việt Nam tiếp tục vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của
dân tộc.