Trải qua 92 năm đồng hành cùng lịch sử dân tộc, công tác dân vận luôn là một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, góp phần củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Trải qua 92 năm đồng hành cùng lịch sử dân tộc, công tác dân vận luôn là một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, góp phần củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Từ thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945); trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc (1945 - 1975); trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (từ 1975 đến nay) đều có sự đóng góp lớn lao và những dấu ấn trong công tác dân vận của Đảng.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến công tác dân vận. Một trong những nội dung xuyên suốt trong tư tưởng vĩ đại của Người là vấn đề Dân vận. Người đã để lại cho chúng ta cả một kho tàng tinh tuý, quý báu, sâu sắc về nội dung, phương châm, phương pháp và những bài học kinh nghiệm quý, có giá trị trường tồn đối với mọi thời đại, đối với cách mạng và đối với công tác xây dựng Đảng, đó là vấn đề dân vận.
Người căn dặn: Mọi việc từ nhỏ đến lớn đều phải từ dân, vì dân, phục vụ dân; phải thu phục cho được lòng dân và yên dân. Người nói: “Có dân là có tất cả”, “Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Bài báo Dân vận của Bác Hồ đăng trên báo Sự thật, số 120, ngày 15/10/1949 dưới bút danh X.Y.Z Bác Hồ chỉ rõ: “Lực lượng của dân rất to. Việc Dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Công tác dân vận của Đảng đã trở thành nhiệm vụ chiến lược, cấp bách của Đảng ta qua hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Trong tình hình hiện nay, công tác dân vận lại có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết, góp phần tăng cường hơn nữa mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đảm bảo ổn định đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân; phát huy vai trò của Nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, tạo sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Trong tác phẩm Sửa lối làm việc. Người viết: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, bằng tình cảm, ý chí, trí tuệ, tâm huyết, sự gương mẫu và phong cách sống dân chủ, thanh bạch, giản dị của mình, Người đã thu phục được lòng dân, huy động tối đa trí tuệ, tiềm năng, sức người, sức của, tinh thần và trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân cho sự nghiệp cách mạng nước nhà thắng lợi.
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về Dân vận, trong từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta đã chủ động và sáng tạo đề ra nhiều chủ trương, nghị quyết, chương trình hành động thiết thực. Ngay sau khi thành lập Đảng (3/2/1930), Đảng ta đã thành lập các tổ chức: Công nhân vận động, Nông dân vận động, Cộng sản Thanh niên vận động, Phụ nữ vận động, Quân đội vận động.… Với tinh thần và mục đích cao cả của Đảng là: độc lập dân tộc, phát triển đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân; ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có một lợi ích nào khác.
Để thực hiện được mục tiêu của cách mạng, biết bao thế hệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, hy sinh cả tính mạng, tài sản để thực hiện “vô sản hoá”, sống “ba cùng”, bám dân, bám địa bàn; vận động, giác ngộ và huy động sức mạnh vật chất và tinh thần cách mạng của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhằm ủng hộ Đảng, đi theo Đảng làm cách mạng. Các phong trào của quần chúng nổi dậy đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, dân quyền trong những năm 1930 – 1941; phong trào nổi dậy đấu tranh cách mạng tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2/9/1945), Nhà nước kiểu mới, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á…
Công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ 1945 - 1954 đã đánh dấu bước phát triển mới trên nhiều phương diện khác nhau; phong phú về nội dung, hình thức; đa dạng về các loại hình, mô hình và phương thức, phương pháp làm công tác dân vận. Các phong trào vận động nhân dân tham gia: “diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm” được lan toả đến từng thôn, bản; hũ gạo kháng chiến được lan rộng khắp nơi, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, rào làng chiến đấu, tình nguyện tòng quân, tham gia thanh niên xung phong.… đã khơi dậy được tinh thần yêu nước của nhân dân hướng về các mặt trận, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, mở đầu cho sự kết thúc chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới.
Thời kỳ 1954 – 1975 là một giai đoạn lịch sử đặc biệt, ghi đậm những trang vàng vẻ vang sáng chói về truyền thống công tác dân vận của Đảng. Với tinh thần xây dựng miền Bắc thành hậu phương vững chắc góp phần đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, công tác dân vận ở miền Bắc đã bám sát chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thực hiện theo phương châm: bám ngõ, gõ từng nhà, vận động từng người dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, như: Ba ngọn cờ hồng; thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang; tay cày, tay súng; thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người; xe chưa qua nhà không tiếc; tất cả vì miền Nam ruột thịt, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.…
Ở miền Nam, các phong trào đấu tranh đòi hoà bình, dân chủ; chống bình định, kìm kẹp càn quét, lập ấp chiến lược; đào hầm bí mật, bám trụ, xây dựng và cũng cố lực lượng, xây dựng hậu cứ, bảo vệ cán bộ, bảo vệ cách mạng… đã được nhân dân hưởng ứng tích cực làm cơ sở vững chắc cho cách mạng giành thắng lợi khi thời cơ đến.
Trong gian khó, trong chiến tranh ác liệt, sự tận tuỵ, nhiệt tình và trách nhiệm cao của từng cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên đã để lại hình ảnh ấn tượng và tình cảm nồng ấm, tốt đẹp, sâu sắc trong lòng mỗi người dân; tạo nên sự gắn bó, ngày càng thắt chặt hơn mối quan hệ giữa Đảng với dân và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Công tác dân vận của Đảng đã góp phần to lớn trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Công tác dân vận thời kỳ khôi phục hậu quả chiến tranh và đổi mới đất nước (1975 - 2021) có nhiều chuyển biến tích cực. Các phong trào thi đua yêu nước được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, phát triển và đẩy mạnh khắp nơi, có hiệu quả thiết thực, như: Đền ơn đáp nghĩa, Uống nước nhớ nguồn, ; lấp hố bom, cải tạo đồng ruộng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; xóa nhà tạm; thực hiện phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra; chính sách hậu phương quân đội; “dạy tốt, học tốt”; các chương trình tình nguyện, hiến máu nhân đạo…
Giai đoạn 1975 - 1985: Sau 30 năm chiến tranh, cả nước bước vào thời kỳ mới cùng thực hiện một chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với nhiều khó khăn, thách thức. Đảng đã vận động nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và kéo dài, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với Lào, Campuchia, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhằm đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất họp từ 31/01 - 04/02/1977 tại thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất các tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam Bắc thành tổ chức Mặt trận thống nhất duy nhất, lấy tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng đã nhìn thẳng vào sự thật, cùng toàn dân khởi xướng sự nghiệp đổi mới với bốn nội dung "đổi mới chủ trương, đổi mới tổ chức, đổi mới cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác". Trên cơ sở đó, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đưa đất nước vượt qua khó khăn, phá thế bao vây cấm vận, tiếp tục phát triển.
Bước vào thời kỳ đổi mới, nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng tiếp tục đổi mới công tác dân vận. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa VI đã ban hành Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW, ngày 27/3/1990 về "Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân" với 4 quan điểm chỉ đạo: Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòa các lợi ích, thống nhất quyền lợi với nghĩa vụ công dân; các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng; công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể. Nghị quyết 08B là bước chuyển kịp thời nhằm tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân trong tình hình mới, khắc phục tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên quan liêu, mệnh lệnh, xa dân, chuyên quyền, độc đoán, tham ô, hối lộ, sống xa hoa, lãng phí, làm giảm nhiệt tình cách mạng, hạn chế việc phát huy khả năng to lớn của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước. Năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khẳng định: "Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân".
Thực hiện các Nghị quyết từ Đại hội VII đến Đại hội XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành hệ thống văn bản liên quan đến công tác dân vận: về vận động các giới, các giai tầng xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, tăng cường công tác dân vận của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tiêu biểu là: Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18/02/1998 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về "Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở"; các Nghị quyết số 23-NQ/TW, 24-NQ/TW, 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc, công tác tôn giáo; Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25/02/2010 của Bộ Chính trị (khóa X) về "Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị". Đặc biệt, trên cơ sở đánh giá tình hình, làm rõ các thách thức đối với công tác dân vận trong Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 về "Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới". Nghị quyết khẳng định và làm sâu sắc thêm 5 quan điểm, 7 nhiệm vụ nhằm tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả hệ thống chính trị đã tích cực vào cuộc làm công tác dân vận, hướng mạnh về cơ sở, chăm lo cho cuộc sống, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân; nâng cao ý thức, trách nhiệm tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là của người đứng đầu trước nhân dân. Nhà nước tăng cường thể chế hóa, cụ thể hóa các nội dung liên quan đến công tác dân vận, đến phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thành các văn bản pháp luật và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Qua đó, vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp, vừa thực hiện tốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cấp cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết định trực tiếp những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với phát triển kinh tế - xã hội, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tích cực, đổi mới nội dung, phương thức vận động, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; động viên nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh.
Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) với tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 đã bổ sung nhiều nội dung mới về lãnh đạo đối với công tác dân vận. Văn kiện Đại hội xác định rõ yêu cầu, nhiệm vụ: Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Trong đó nhấn mạnh các nội dung: "Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động…, tăng cường đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa"; "Tiếp tục hoàn thiện và thực thi quy định về đạo đức công vụ trong công tác dân vận, phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu. Phê phán, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu dân..." ; "Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên". Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp và lực lượng vũ trang. Chú trọng công tác dân vận đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội, đóng góp ý kiến của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân vận.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng yêu cầu tiếp tục phát huy cao độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân: "Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Đồng thời xác định cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt" để nhân dân làm chủ; đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là các quy định, quy chế về phát huy dân chủ ở cơ sở; thực hiện tốt công tác tiếp dân, đối thoại, giải quyết những kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân; xử lý kịp thời, dứt điểm các vấn đề bức xúc liên quan đến đời sống nhân dân, các vụ khiếu kiện đông người; đồng thời, chống các biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức, không để xảy ra vụ việc phức tạp, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự xã hội.
Để tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác dân vận trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 30/7/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 23-QĐ/TW về "Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị" (thay thế Quyết định số 290-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa X). Quyết định số 23-QĐ/TW có nhiều điểm mới, quy định rất cụ thể về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cơ chế, phương thức thực hiện công tác dân vận trong hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng; đề cao vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu đối với công tác dân vận: "Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có trách nhiệm thực hiện tốt công tác dân vận theo quy định của Đảng và Nhà nước; gương mẫu thực thi công vụ, nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân; giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân". Nhằm cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả những quy định của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cà Mau đã ban hành: Quyết định số 322-QĐ/TU, ngày 16/5/ về “Ban hành Quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị tỉnh Cà Mau”; Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 13/7/2022 của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh Cà Mau về “đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới”. Quá trình triển khai thực hiện công tác dân vận trong các cơ quan nhà nước luôn gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị.
Những thành tựu của 92 năm truyền thống công tác dân vận của Đảng có sự đóng góp tích cực và sự hy sinh, cống hiến quên mình của lớp người cao tuổi (NCT) Việt Nam. Chính những NCT hiện nay, là lớp người đã góp công, góp sức của mình vào công tác dân vận, trực tiếp tham gia các cuộc chiến tranh, xây dựng và phát triển kinh tế, giữ vững an ninh, trật tự ở cơ sở; sống gương mẫu và động viên con cháu chấp hành các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xây dựng mô hình gia đình văn hoá; ấp, khóm, tổ dân phố, cơ quan văn hoá tạo nên sức mạnh tổng hợp của công tác dân vận.
Tuy nhiên, công tác dân vận vẫn còn những hạn chế, nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, công chức, viên chức chưa được đầy đủ; tinh thần, trách nhiệm, năng lực và nghệ thuật thực hành về công tác dân vận còn yếu. Không ít cán bộ, đảng viên; Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị- xã hội ở cơ sở hoạt động hiệu quả chưa cao, có mặt, có nội dung chưa đáp ứng yêu cầu. Việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, việc giải quyết đơn thư khiếu tại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của dân ở một số đơn vị, địa phương chưa được quan tâm giải quyết dứt điểm, kịp thời, làm hạn chế sự phát triển của tỉnh và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Lịch sử đã cho chúng ta những bài học lớn về công tác dân vận, đó là phải biết dựa vào dân, lắng nghe ý kiến của dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; mọi chủ trương, chính sách phải hợp lòng dân, vì lợi ích của nhân dân. Các tổ chức trong hệ thống chính trị phải vững mạnh; cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên phải gương mẫu, chí công vô tư; tăng cường đoàn kết, tạo sự đồng thuận, thường xuyên củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, sẽ góp phần tạo nên những thành quả mới của cách mạng.
Phát huy thành quả đạt được, trong thời gian tới và năm 2023, các cấp ủy, tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị trong tỉnh tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm về công tác dân vận như sau:
1. Tăng cường quán triệt, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về vai trò của nhân dân, dân vận và công tác dân vận. Tập trung quán triệt tác phẩm "Dân vận" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về "Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới", Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30/7/2021 của Bộ Chính trị về ban hành "Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị"; Chỉ thị số 33/CT-TTg, ngày 26/11/2021 về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong các cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới”; Quyết định số 322-QĐ/TU, ngày 16/5/ 2022 về “Ban hành Quy chế công tác dân vận trong hệ thống chính trị tỉnh Cà Mau”; Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 13/7/2022 của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh Cà Mau về “đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận trong tình hình mới” gắn với triển khai hiệu quả Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác dân vận.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; học tập phong cách dân vận của Người: “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”, “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, tuân thủ pháp luật và đạo đức, lối sống; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.
2. Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, vận động và phương thức nắm tình hình nhân dân theo hướng chủ động, thiết thực, hiệu quả. Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, vận động, tương tác với người dân, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với điều kiện phát triển, trình độ dân trí và môi trường sống của các tầng lớp nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận trong nhân dân để thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Hướng về cơ sở, chủ động nắm chắc tình hình, đời sống, tâm trạng các tầng lớp nhân dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo, vùng sâu, vùng xa, khó khăn, biên giới, hải đảo, địa bàn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp… Qua đó, chủ động dự báo, đánh giá xu hướng của dư luận xã hội; vận động nhân dân nhận thức đúng, tích cực tham gia phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, giữ vững quốc phòng – an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Đấu tranh, phản bác các thông tin không đúng, luận điệu xuyên tạc, chia rẽ, gây mất đoàn kết, ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ giữa Đảng với nhân dân.
3. Tăng cường công tác dân vận của các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp gắn với triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 33/CT-TTg, ngày 26/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ “Về tiếp tục tăng cường và đổi mới công tác dân vận của cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới”. Tập trung nâng cao hiệu quả công tác cải cách hành chính, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động tiếp xúc cử tri, hoạt động tiếp công dân, đối thoại, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân.
Nâng cao hiệu quả vận động nhân dân thông qua thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng bằng chính sách, pháp luật hợp lòng dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo hài hòa lợi ích nhà nước, doanh nghiệp, người dân, bảo vệ lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân theo Hiến pháp và phát luật.
Nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, trọng tâm nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội làm nòng cốt” để nhân dân làm chủ; phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở phù hợp thực tiễn của địa phương, đơn vị.
4. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và hội quần chúng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của theo hướng sát cơ sở, thực chất, hiệu quả. Phát huy vai trò đoàn kết, tập hợp đoàn viên, hội viên trong tổ chức; làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên; làm nòng cốt chính trị trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
Tăng cường công tác phối hợp với các cơ quan nhà nước trong lắng nghe, tiếp thu, giải trình ý kiến của nhân dân; kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết các chủ trương, đường lối của Đảng liên quan đến đời sống nhân dân, giải quyết kịp thời, hiệu quả những điểm nóng, phức tạp trong cộng đồng dân cư. Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát và phản biện xã hội liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; khuyến khích, vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.
5. Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong toàn hệ thống chính trị, gắn với động viên các tầng lớp nhân dân tham gia tích cực các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động; hưởng ứng và thực hiện hiệu quả 03 Chương trình mục tiêu quốc gia: Xây dựng nông thôn mới; Giảm nghèo bền vững; Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Định kỳ sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong các phong trào thi đua yêu nước, trong công tác dân vận nhằm cổ vũ tinh thần phục vụ nhân dân, phát huy tiềm năng, trí tuệ trong nhân dân đóng góp cho xã hội, cho phát triển tỉnh.
6. Ban Dân vận cấp ủy các cấp nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, tham mưu về các chủ trương, chính sách và giải pháp lớn về công tác dân vận cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy các cấp. Thực hiện tốt các nhiệm vụ thẩm định, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết… các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác dân vận; trong đó trọng tâm là Ban Dân vận Trung ương tham mưu Ban Chỉ đạo Trung ương về tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Phối hợp với các cơ quan trong hệ thống chính trị cụ thể hóa, tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác dân vận; thực hiện một số đề án về công tác dân vận, công tác dân tộc, tôn giáo; tham mưu chỉ đạo tổ chức thành công đại hội các cấp, tiến tới đại hội toàn quốc một số tổ chức chính trị – xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ chế phối hợp thực hiện công tác dân vận của hệ thống chính trị.
Phối hợp tham mưu việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ dân vận các cấp có phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực, kinh nghiệm, nhiệt tình, có phương pháp, làm nòng cốt tham mưu và thực hiện công tác dân vận.
Tham mưu, phối hợp tổ chức các hoạt động thiết thực, ý nghĩa kỷ niệm 92 năm Ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng, 23 năm Ngày “Dân vận” của cả nước và các ngày kỷ niệm, sự kiện quan trọng của Đảng, đất nước và dân tộc.
Sự nghiệp dân vận là trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, công chức, viên chức, các chiến sỹ lực lượng vũ trang... Thường xuyên cũng cố, tăng cường đoàn kết, đồng thuận của các tầng lớp nhân dân, sự nghiệp cách mạng của Đảng, sự phát triển đất nước nhất định sẽ giành được những thắng lợi to lớn và bền vững.
Nguyễn Văn Đê