NHỮNG KẾT QUẢ NỔI BẬT SAU 10
NĂM THỰC HIỆN CHỈ THỊ 20-CT/TW
Qua hơn 10 năm
triển khai thực hiện Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 5/11/2012 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo
của Đảng đối với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình
mới” (Chỉ thị số 20-CT/TW) đã đạt
được những kết quả nổi bật. Nhận thức, ý thức trách nhiệm của nhiều cấp
ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cộng đồng và gia đình đối với công tác trẻ em có
sự chuyển biến tích cực, đặc biệt trong thời gian diễn ra dịch COVID-19. Công
tác quản lý nhà nước về trẻ em đã có chuyển biến rõ rệt. Việt Nam đã đạt
được những tiến bộ ấn tượng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về cam kết và
thực hiện Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, các công ước, điều ước
quốc tế có liên quan, các Mục tiêu Thiên niên kỷ và Mục tiêu phát triển
bền vững về chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Công tác hỗ trợ
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị tác động bởi dịch COVID-19, phòng
chống đuối nước, xâm hại và bạo lực trẻ em ngày càng được quan tâm. Sự
tham gia của trẻ em vào các vấn đề liên quan đến trẻ em và hoạt động xã hội
được tăng cường. Sự phối hợp giữa các ban, bộ, ngành, đoàn thể, giữa gia đình,
nhà trường và xã hội trong chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em ngày càng chặt
chẽ, hiệu quả.
Tuy nhiên, công tác chăm sóc,
giáo dục và bảo vệ trẻ em còn một số tồn tại, hạn chế:
Một là, hệ thống pháp luật liên
quan đến trẻ em chưa đồng bộ, thiếu quy định về một số lĩnh vực thiết thực đối
với trẻ em, như phúc lợi xã hội, công tác xã hội với trẻ em.
Hai là, tình trạng trẻ em thiếu vi chất, suy dinh dưỡng, tỷ suất tử vong còn cao. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho trẻ em chưa được quan tâm đúng mức. Trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực trong gia đình và trường học diễn biến phúc tạp, nghiêm trọng. Trẻ em bị đuối nước, tai nạn, thương tích, vi phạm pháp luật giảm chậm.
Ba là, hệ thống an
sinh xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt dịch vụ bảo vệ trẻ
em chưa rộng khắp, khó tiếp cận và chưa hiệu quả. Bốn là, công
tác bảo vệ trẻ em, đặc biệt phòng, chống xâm hại trẻ em tại một số địa phương
chưa được quan tâm đúng mức. Bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng chưa đáp ứng
yêu cầu. Mạng lưới thiết chế văn hóa, thể thao dành cho trẻ em chậm được quy
hoạch, chưa được quan tâm đầu tư, nâng cấp.
BẢO ĐẢM CHĂM SÓC, GIÁO DỤC VÀ
BẢO VỆ TRẺ EM TỪ SỚM, LIÊN TỤC, TOÀN DIỆN
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc thực hiện các cam kết, Công ước Liên hợp
quốc về quyền trẻ em, các công ước, điều ước quốc tế có liên quan, các Mục
tiêu Thiên niên kỷ, phát triển bền vững tạo ra những điều kiện thuận lợi trong huy động nguồn lực trong chăm sóc,
giáo dục, bảo vệ, bảo đảm quyền trẻ em. Tuy nhiên, cũng đối diện với những khó
khăn, thách thức như: bảo đảm nguồn lực thực hiện Công ước về quyền trẻ em, các
chỉ tiêu quốc gia liên quan đến trẻ em phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, xây dựng
hệ thống phát hiện, can thiệp, hỗ trợ sớm dành cho trẻ em khuyết tật, xóa bỏ
lao động đối với trẻ em, … Do đó, cần sớm hoàn thiện chính sách, pháp
luật về trẻ em phù hợp với cam kết, công ước và điều ước quốc tế; ứng phó với vấn đề an ninh phi truyền thống, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia liên quan đến trẻ em.
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần
thứ tưdiễn ra rất nhanh, tác động mạnh mẽ, sâu rộng, đa chiều đến sự phát triển và hạnh phúc
của trẻ em. Việc sử dụng công nghệ mang đến những cơ hội đặc biệt, có tiềm
năng to lớn trong hỗ trợ sức khỏe và sự phát triển của trẻ em. Điều này giúp
trẻ em tiếp cận nhanh, hiệu quả với các dịch vụ xã hội, có cơ hội học tập mới, đặc
biệt đối với trẻ em gặp khó khăn về thể chất hoặc phát triển; tăng cường
khả năng tiếp cận thông tin, nghệ thuật, khoa học và công nghệ, phát triển kỹ
năng xã hội, năng lực sáng tạo, chuẩn bị cho trẻ em tham gia thành công
vào xã hội và thị trường lao động số... Cùng với đó, công nghệ kỹ thuật số cũng
tạo ra những khó khăn, thách thức đối với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật
về phát triển công nghệ kỹ thuật số đáp ứng yêu cầu chăm sóc, giáo dục, bảo vệ
và bảo đảm quyền trẻ em; ngăn ngừa tình trạng trẻ em lạm dụng, phụ thuộc vào
công nghệ, nguy cơ bóc lột lao động, xâm hại, làm cho trẻ em giảm lòng tự
trọng, gia tăng sự lo lắng, thiếu tập trung, có hành vi hung hăng, lười vận
động...
Kinh tế thị trường tạo ra những
điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em thông qua tạo
việc làm, nâng cao thu nhập cho gia đình, phát triển đa dạng các dịch vụ chăm
sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường làm
phân hóa giàu nghèo, làm suy giảm một số giá trị đạo đức xã hội, giảm sút sự
quan tâm của cộng đồng; gây khó khăn về thời gian và tăng chi phí cho gia đình
trong chăm sóc, đáp ứng nhu cầu vui chơi, giải trí của trẻ em; làm gia tăng trẻ
em lang thang kiếm sống, lao động và xâm hại tình dục trẻ em. Đòi hỏi phải thực
hiện các giải pháp xây dựng gia đình, trường học và cộng đồng an toàn, thân
thiện với trẻ em.
Để chăm lo bồi dưỡng, giáo dục,
phát triển toàn diện và bảo đảm quyền của trẻ em; dành những điều kiện tốt
nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước, chuẩn bị
nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước phồn vinh,
hạnh phúc; góp phần xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá
trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam, công tác chăm sóc, giáo dục và
bảo vệ trẻ em trong thời gian tới cần tập trung vào những nhiệm vụ và giải pháp
chủ yếu sau:
Thứ nhất, tiếp tục tổ chức quán
triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nêu trong
Chỉ thị số 20-CT/TW và các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương
liên quan đến công tác gia đình. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo triển
khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch của Nhà nước về trẻ em. Xác định
trách nhiệm và hành động cụ thể, gắn việc thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu về bảo
đảm quyền trẻ em và giải quyết các vấn đề về trẻ em với đánh giá mức độ hoàn
thành nhiệm vụ của các cấp ủy, tổ chức đảng. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền
các cấp chịu trách nhiệm cao nhất về công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ
trẻ em trên địa bàn do mình phụ trách.
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo
dục, nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân
dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ
trẻ em đối với sự phát triển bền vững, chuẩn bị nguồn nhân lực
chất lượng cao, xây dựng hệ giá trị con người, gia đình và hệ giá trị quốc gia,
dân tộc. Phát huy vai trò của các cơ quan thông tấn báo chí trong tuyên truyền
chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục và bảo
vệ trẻ em đến từng gia đình, trường học, cộng đồng dân cư.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới, nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm sự phối hợp liên ngành đồng
bộ, liên thông trong công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Tập
trung rà soát, sửa đổi, bổ sung kịp thời pháp luật, chính sách liên quan đến
trẻ em. Ưu tiên lồng ghép các vấn đề trẻ em trong quá trình xây dựng pháp luật,
chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Có cơ chế, chính
sách đầu tư dinh dưỡng để nâng cao thể trạng, chiều cao, giảm nhanh tỷ lệ suy
dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em.
Ban hành quy định pháp luật về
công nghệ kỹ thuật số đáp ứng yêu cầu chăm sóc, giáo dục, bảo vệ và bảo đảm
quyền trẻ em. Hoàn thiện chính sách, tiêu chuẩn, quy trình về tiếp cận
dịch vụ xã hội cơ bản cho trẻ em. Xây dựng cơ chế, chính sách cụ thể
khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp tham gia đầu tư phát triển cơ
sở vật chất, công trình phúc lợi, cung cấp dịch vụ xã hội, sản phẩm văn
hóa cho trẻ em, hỗ trợ trẻ em thuộc hộ nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, mồ
côi, di cư, trẻ em vùng kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
biên giới, hải đảo. Xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu về trẻ em liên
thông với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Kiện toàn bộ máy quản lý nhà
nước các cấp về trẻ em theo hướng tinh gọn, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả. Củng
cố, phát triển đội ngũ làm công tác bảo vệ trẻ em ở các cấp, nhân viên công tác
xã hội, cộng tác viên ở cộng đồng dân cư. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đổi
mới phương thức quản lý, điều hành, phối hợp, bảo đảm khoa học, chặt chẽ, hiệu
quả trong công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Tích cực phòng ngừa
và kiên quyết xử lý các hành vi xâm hại, bạo lực, mua bán, bỏ rơi, bắt
cóc, gây nguy hại đến trẻ em. Tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra
việc thực hiện quyền và giải quyết các vấn đề về trẻ em. Rà soát toàn diện,
tăng cường quản lý các quỹ từ thiện, quỹ xã hội, cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, hỗ
trợ trẻ em bảo đảm hoạt động theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, bảo đảm chăm sóc, giáo dục và
bảo vệ trẻ em từ sớm, liên tục, toàn diện. Chú trọng chăm sóc phát triển
toàn diện trẻ em trong những năm đầu đời. Phát triển hệ thống phúc lợi xã
hội, cung cấp dịch vụ xã hội cho trẻ em liên thông, chất lượng và hiệu quả,
nhất là ở vùng kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên
giới, hải đảo. Xây dựng và thực hiện các tiêu chí tỉnh, thành phố thân thiện
với trẻ em. Đẩy mạnh xây dựng môi trường gia đình, nhà trường, cộng đồng
an toàn, lành mạnh, thân thiện với trẻ em.
Tập trung giáo dục đạo đức, lối
sống, ý thức trách nhiệm, ý chí và khát vọng vươn lên cho trẻ em. Từng
bước thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em dưới 5 tuổi. Xây dựng
và triển khai chương trình dinh dưỡng học đường, chăm sóc sức khỏe tinh thần và
chương trình giáo dục kỹ năng số. Phát triển hệ thống tư pháp thân
thiện với trẻ em và hệ thống bảo vệ trẻ em. Tăng cường bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em trên không gian mạng. Ưu tiên phòng, chống xâm hại,
tai nạn, thương tích trẻ em, hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bị ảnh hưởng
bởi thiên tai, dịch bệnh. Phát triển các sản phẩm văn hóa, tác phẩm
văn học - nghệ thuật dành cho trẻ em.
Thứ tư, đẩy mạnh xã hội hóa, tăng
cường đầu tư, huy động nguồn lực, thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả
giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ
em. Phân bổ nguồn lực phù hợp, khả thi để thực hiện các mục tiêu, chỉ
tiêu, giải pháp, mô hình chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Đầu tư xây dựng
cơ sở y tế, giáo dục, điểm vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật,
thể thao cho trẻ em, nhất là vùng kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số, biên giới, hải đảo. Tích cực hợp tác và hội nhập quốc tế, phát
huy thành viên tích cực trong thực hiện Công ước Liên hợp quốc về quyền
trẻ em, các phong trào toàn cầu, khu vực về thực hiện và bảo vệ quyền trẻ em.
Thứ năm, tăng cường vai trò, trách
nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã
hội, các tổ chức xã hội, Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam trong giám sát, phản
biện xã hội đối với việc thực hiện quyền trẻ em và giải quyết các vấn đề về trẻ
em. Biểu dương, nhân rộng các phong trào, mô hình, sáng kiến chăm sóc,
giáo dục và bảo vệ trẻ em.
Tổ chức thực hiện hiệu quả,
thiết thực phong trào “Toàn dân chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em” gắn với
cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn
minh”. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các hội viên, đoàn viên tham gia
cung cấp thông tin, tư vấn, hỗ trợ thực hiện quyền và giải quyết các vấn đề của
trẻ em. Hỗ trợ, hướng dẫn các phong trào người lớn gương mẫu, các mô hình
an toàn, lành mạnh, thân thiện với trẻ em và thúc đẩy sự tham gia của trẻ
em vào các hoạt động xã hội./.
Đảng ta đã khẳng định: “Chăm
sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em là vấn đề có tính chiến lược. Đầu tư cho trẻ em
là đầu tư cho tương lai của đất nước. Nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ, bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em”; “Chăm lo bồi dưỡng, giáo dục,
phát triển toàn diện và bảo đảm quyền của trẻ em; dành những điều kiện tốt
nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước”.