Sinh thời, Chủ
tịch Hồ Chí Minh xác định công tác tôn giáo là yếu tố trọng yếu trong công cuộc
xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh mới, cần tiếp tục vận dụng
linh hoạt, sáng tạo lời dạy quý báu của Người để giải quyết hợp lý các vấn đề
tôn giáo, góp phần xây dựng đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc.

Ngay sau Ngày khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội
đồng Chính phủ, Người đã chỉ ra sáu vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó
vấn đề thứ sáu chính là “tôn giáo”. Người chủ trương bảo đảm tự do tôn giáo,
điều này được thể hiện trong những văn kiện quan trọng đầu tiên của Đảng và Nhà
nước Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ đạo
nghiên cứu, xây dựng. Cụ thể, ngày 9-11-1946, Quốc hội khóa I đã thông qua Hiến
pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó ghi nhận Nhân
dân có quyền “tự do tín ngưỡng”; kế tiếp, Chính
cương của Đảng Lao động Việt Nam cũng đã nhấn mạnh: “Tôn trọng và bảo vệ
quyền tự do tín ngưỡng của mọi người dân”. Đặc biệt, năm 1955, Người
ký quyết định ban hành Sắc lệnh số 234/SL (văn bản quy phạm pháp
luật riêng cho tôn giáo sớm nhất ở Việt Nam) nhằm thực hiện quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo dưới chế độ mới, được tín đồ, chức sắc các tôn giáo nhiệt liệt
hoan nghênh và ủng hộ, khẳng định: “Chính phủ đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và
tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mỗi
người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn
giáo nào”; đồng thời, nêu rõ quyền thực hiện các hoạt động tôn giáo, như truyền
đạo, giảng đạo, đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, quan hệ quốc tế, tham gia
các hoạt động xã hội,...
Bên cạnh việc tôn trọng, chấp nhận sự khác biệt về
nhận thức, tư tưởng, niềm tin cũng như tìm kiếm và phát huy điểm tương đồng,
mẫu số chung vì mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp để cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ cao
cả của dân tộc luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao, coi trọng. Theo đó, Người
xác định, đối với người theo tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nước
không hề mâu thuẫn, ngược lại, những giá trị đó có mối quan hệ biện chứng, thôi
thúc, bổ sung cho nhau. Như vậy, có thể khẳng định, chính sự hiểu biết sâu sắc
cùng tâm huyết, mong muốn giải quyết thỏa đáng mối quan hệ tôn giáo với dân tộc
của Người đã tạo cơ sở, nền tảng vững chắc để sau này các tôn giáo tồn tại trên
lãnh thổ Việt Nam xác định đường hướng hoạt động tiến bộ, gắn bó với dân tộc,
như “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Công giáo; “Đạo
pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” của Phật giáo; “Nước
vinh, đạo sáng” của đạo Cao Đài; “Sống phúc âm phụng sự
Thiên Chúa, phục sự Tổ quốc và dân tộc” của đạo Tin lành,...
Thêm vào đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đồng
bào và chiến sỹ cả nước phải quan tâm chăm sóc cuộc sống vật chất và tinh thần
cho đồng bào các tôn giáo. Trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện xây dựng và bảo vệ
đất nước, Người yêu cầu chính quyền các địa phương thật quan tâm đến phần
đời và phần đạo của tín đồ các tôn giáo.
Cùng với bảo đảm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải kiên quyết đấu tranh
chống lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch; “bảo vệ tự do tín ngưỡng,
nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo đã phản Chúa, phản nước”.
Người vạch rõ ranh giới giữa một bên là đồng bào tôn giáo chân chính yêu nước
với bên kia là những kẻ “giáo gian” vì cam tâm làm tay sai cho giặc, hại nước,
phản Chúa. Người còn lưu ý, trong đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phải
kiên quyết với kẻ thù, nhưng phải có thái độ khoan dung với những người dân do
hoàn cảnh xô đẩy hoặc bị lừa mị mà lầm đường lạc lối. Đối với những người biết
hối cải, Người chủ trương mở rộng vòng tay chào đón và họ “sẽ được hoan
nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”.
Mặt khác, Người khẳng định,
trong quá trình xây dựng xã hội mới cần bài trừ tệ mê tín dị đoan, xóa bỏ các
hủ tục lạc hậu để Nhân dân có cuộc sống ngày càng văn minh. Muốn vậy, trước hết
phải phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng văn hóa mới. Đồng thời, phải thường
xuyên tuyên truyền phổ biến thường thức khoa học, từ đó giúp quần chúng nhân
dân nhận thức được tác hại của hủ tục lạc hậu và nạn mê tín dị đoan. Việc tuyên
truyền vận động phải khéo léo, tế nhị…
Có thể khẳng
định, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo có nội dung phong phú, thể hiện tính độc
đáo và có giá trị khoa học, giá trị nhân văn sâu sắc. Qua gần 40 năm đổi mới,
vận dụng tư tưởng của Người về tôn giáo, Đảng đã đề ra được chủ trương, chính
sách tôn giáo đúng đắn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước. Trong
giai đoạn hiện nay, bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, song tư tưởng Hồ
Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về tôn giáo nói riêng vẫn còn nguyên giá
trị, là chỉ dẫn quý báu cho công tác tôn giáo. Do đó, cần tiếp tục vận dụng,
phát triển sáng tạo tư tưởng của Người để giải quyết tốt vấn đề tôn giáo vì mục
tiêu phát triển một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.