Lịch sử thành
văn của gần trọn một thiên niên kỷ qua, giới sử học đã quan tâm nhiều, chủ yếu
đến lịch sử giữ nước và chỉ mới bắt đầu quan tâm đến lịch sử dựng nước, trong
đó có lịch sử trị nước gắn liền với vai trò và đóng góp của các triều đại phong
kiến ở Việt Nam. Có thể cũng vì thế và qua lăng kính ấy - triều Nguyễn, triều
đại cuối cùng của Việt Nam kéo dài gần một thế kỷ có chủ quyền (1802 - 1884) và
hơn 60 năm sau chỉ là cái bóng của chế độ thuộc địa (1884 - 1845) chỉ còn được
thấy trong sắc màu ảm đạm của một chế độ suy đồi. Điều này cũng làm cho những
dấu tích vật chất (mà thực chất là một phần di sản văn hóa dân tộc) gắn liền
với triều đại này đã bị hủy hoại hay mai một khá lâu.
Nhưng chính
sự nghiệp xây dựng đất nước và đặc biệt là tư duy công cuộc đổi mới từ giữa
thập kỷ 80 của thế kỷ này đã đòi hỏi và kích thích một cái nhìn thực tế hơn về
quá khứ gần gủi đó là triều đại Nhà Nguyễn. Thực ra, đó là sự nhìn nhận lại
toàn bộ những gì xảy ra của thế kỷ cận kề thế kỷ chúng ta đang sống. Và người
ta càng nhận thấy rằng thế kỷ XIX ấy giống như cái bản lề, cái cầu nối giữa xã
hội truyền thống và xã hội đương đại trong điều kiện đầy thử thách ác liệt của sự
áp đặt chế độ thực dân đến từ bên ngoài.
Triều đình
nhà Nguyễn tồn tại trong một thời kỳ lịch sử đầy biến động và triều đại này
phải gánh chịu trách nhiệm khi để đất nước rơi vào tay ách thống trị của bọn
thực dân cuối thế kỷ XIX. Tuy nhiên, vấn đề đánh giá về triều Nguyễn cần được
nghiên cứu kỷ càng hơn và có thái độ khách quan, biện chứng để từ đó nhìn rõ và
bảo vệ những giá trị mà triều đại này để lại.
Một vài ông
vua cuối triều Nguyễn phải gánh chịu trách nhiệm để đất nước rơi vào ách thống
trị của thực dân Pháp ở cuối thế kỷ XIX. Mần móng của nó có từ việc Nguyễn Ánh
nhằm giành được quyền lực chống chọi với nhà Tây Sơn đã không ngần ngại gửi con
trai là Hoàng tử Cảnh cho giám mục Pigneau de Beshaine sang Pháp để ký Hiệp ước
Versailles năm 1787. Từ sau Hiệp ước đó, triều đình nhà Nguyễn chỉ tồn tại là
một triều đại bù nhìn gắn với chế độ thuộc địa Pháp cho đến ngày cách mạng
Tháng Tám quét đi tất cả.
Dần vượt qua
cái định kiến về triều đại ấy, trong vòng hơn một thập kỷ gần đây, giới nghiên
cứu đặc biệt là giới sử học đã bước đầu có những nhìn nhận mới về những gì mà
triều đại này đạt được. Mặc dù thời gian tồn tại của triều Nguyễn không dài,
nhưng những gì mà triều đại này để lại đều có ý nghĩa hết sức sâu sắc, lớn lao
và đáng tự hào. Ở khía cạnh khác cho thấy, nếu như triều đại Nhà Nguyễn cho đến
khi mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp phải chăng là một chế độ phong kiến bị
khủng hoảng và trên đà suy vong như nhiều nhận định đã từng có. Nếu vậy thì sao
triều đình ấy có thể để lại nhiều nhiều thành tựu rất rõ ràng và to lớn như
thế.
Điển hình nhất
là việc mở rộng lãnh thổ vào tận đồng bằng sông Cửu Long, xác lập chủ quyền
trên vùng đất mới, rồi trên cơ sở đó đi tới thống nhất quốc gia trên một lãnh
thổ rộng lớn tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện đại, bao gồm cả đất liền và
hải đảo, mà việc xác lập lãnh thổ hiện đại là mốc cực kỳ quan trọng trong lịch
sử mỗi quốc gia – dân tộc.
Hay những
thành tựu văn hóa của thời Nguyễn cũng là một cống hiến to lớn. Trong thời gian
tồn tại, triều đại này đã để lại ba di sản văn hóa được UNESCO công nhận có giá
trị toàn cầu đó là: Cố đô Huế, Hội An và Nhã nhạc cung đình Huế. Cố đô Huế tuy
thời gian tồn tại chỉ từ 1802 - 1945, trước đó là Phú Xuân của chúa Nguyễn, Phú
Xuân của Tây Sơn, nhưng về phương diện khác đây là trung tâm chính trị, văn
hóa, quyền lực của một nhà nước Việt Nam thống nhất từ Bắc đến Nam, phản ánh
được bước phát triển cao hơn của lãnh thổ quốc gia, quy tụ được các giá trị văn
hóa của cả lãnh thổ rộng lớn. Hội An cũng là sản phẩm của thời kỳ này, thuộc
loại hình thương cảng, trung tâm kinh tế, mậu dịch đối ngoại, giao lưu quốc tế
trong thời kỳ hội nhập mạnh.
Trong lịch sử
phong kiến, chưa có Quốc sử quán nào hoạt động hiệu quả như triều Nguyễn, để
lại cho ta một di sản cực kỳ đồ sộ. Di sản văn hóa chữ viết của thời kỳ này vô
cùng phong phú với khối lượng lớn các bộ quốc sử với các công trình mang tính
bách khoa lớn như: Đại Nam thực lục, Lịch triều hiến chương loạn chí, Đại Nam
thống nhất chí, Việt sử thông giám cương mục và nhiều tác phẩm sử học của các
tác giả đương thời. Bên cạnh đó, nhiều ông vua triều Nguyễn như Minh Mạng,
Thiệu Trị, Tự Đức... cũng là tác giả lớn của những án văn chương đặc sắc.
Nếu không xét
đến những những hậu quả mà triều đại này để lại - một vấn đề xưa nay nhiều
người nhắc đến, thì những di sản mà chúng ta trực tiếp kế thừa là vô cùng đáng
giá. Bằng chứng đó một lần nữa khẳng định rằng dưới thời nhà Nguyễn, nước ta đã
đạt tới một trình độ phát triển cao ở kiến trúc thượng tầng và không ít các nhà
nghiên cứu nước ngoài đánh giá cao trình độ phát triển văn hóa nước ta thời kỳ
cao hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực.