Ý nghĩa lịch sử ngày 30/4
Cuối năm
1974, đầu năm 1975, nhận thấy tình hình so sánh lực lượng ở Miền Nam có sự thay
đổi nhanh chóng có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã đề ra kế
hoạch giải phóng hoàn toàn Miền Nam trong hai năm 1975 và 1976. Bộ Chính trị
nhấn mạnh “cả năm 1975 là thời
cơ” và chỉ rõ “nếu
thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng hoàn toàn Miền
Nam trong năm 1975”. Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh cần tranh thủ thời cơ
đánh thắng nhanh để đỡ thiệt hại về người và của cho Nhân dân, giữ gìn tốt cơ
sở kinh tế, công trình văn hóa, giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh. Sau
chiến thắng của quân ta ở chiến dịch Tây Nguyên và chiến dịch Huế – Đà Nẵng, Bộ
Chính trị nhận định: “Thời cơ chiến lược đã đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm
quyết tâm giải phóng Miền Nam” và đã đưa ra quyết định: “Phải tập trung nhanh
nhất lực lượng, binh khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Miền Nam trước mùa
mưa”, đồng thời chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được Bộ Chính trị
quyết định mang tên “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Trước khi tiến công giải phóng
Sài Gòn, quân ta đã tiến công Xuân Lộc và Phan Rang, đây là những căn cứ phòng
thủ trọng yếu của địch để bảo vệ Sài Gòn từ phía đông.
Vào lúc
17 giờ ngày 26/4/1975, quân ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch, năm cánh quân của
ta đã vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn đánh chiếm
các cơ quan đầu não của địch. Lúc10 giờ 45 phút ngày 30/4/1975, xe tăng và bộ
binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập bắt sống toàn bộ Nội các chính quyền Sài Gòn.
Dương Văn Minh vừa lên chức Tổng thống ngày 28/4 đã phải tuyên bố đầu hàng vô
điều kiện. Đúng 11 giờ 30 phút trưa ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay
trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch
sử.
Đại thắng 30/4/1975 đã đi vào lịch sử dân tộc, là mốc son chói lọi, đưa đất nước ta bước vào một
kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; là thành quả vĩ
đại, là trang sử hào hùng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc do Đảng Cộng
sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và lãnh đạo. Chiến thắng 30/4 đã
chứng minh, Việt Nam là đất nước nhỏ bé, yêu chuộng hòa bình đã đánh bại kẻ thù
mạnh nhất, hung hãn nhất trên thế giới, chấm dứt ách thống trị hơn một trăm năm
của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng
thế giới, góp phần thúc đẩy cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu
độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân
tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu
mới trên toàn thế giới. Đại thắng mùa xuân 1975 đã thể hiện đường lối cách mạng
đúng đắn, trí tuệ và tài thao lược tài tình của Đảng ta, tinh thần quật khởi
dân tộc trong đấu tranh chống ngoại xâm, giành lại độc lập tự do cho dân tộc,
thống nhất non sông đất nước, chấm dứt hoàn toàn ách thống trị của thực dân, đế
quốc, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đi vào lịch
sử nước ta và của thế giới như một trang sử chói lọi, mang tầm quốc tế và thời đại
sâu sắc. Bên cạnh, chúng ta không bao giờ quên ơn sự hy sinh anh dũng của hàng
triệu anh hùng, liệt sĩ, đồng bào, đồng chí đã ngã xuống vì độc lập tự do của
Tổ quốc.
Phát huy
truyền thống Ngày 30/4, ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết
một lòng, vươn lên mạnh mẽ, quyết tâm thực hiện thực hiện thắng lợi Nghị quyết
Đại hội XIII của Đảng, sớm đưa nước ta trở thành một quốc gia hùng cường, thịnh
vượng, người dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, sống trong môi trường hòa bình,
không có chiến tranh.
Ýnghĩa lịch sử Ngày Quốc tế
Lao động 1/5
Ngay sau
khi thành lập Quốc tế I năm 1864, C. Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động
là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế
Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày
làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm
xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm
nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.
Do sự
kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ
phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển
phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật
ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các
xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ. Năm 1884, tại thành
phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị
quyết nêu rõ: “Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8
giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu
hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ
được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không
kiếm cớ chối từ.
Ngày
1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới
công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ
thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành
phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh,
biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc
quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui
chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng ngày hôm đó,
tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công
với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston…
hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.
Những
cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ
đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố khác, thuê bọn
khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung
đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh
công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ
trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần
chúng công nghiệp đến như vậy”.
Ngày
20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản
lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội
lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm
ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các
nước.
Từ đó,
ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công
nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân
dân lao động toàn thế giới.
Năm 1920,
được sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân
được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều
nước khác trên thế giới tán thành.
Tại Việt
Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt
Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống
thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh
tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế
Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền
đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông
Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội,
thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một
cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với
sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao
tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động
dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao
động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật
tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.
Ngày nay,
ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị
với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho
thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội./.